Giải cứu doanh nghiệp hậu Covid-19: “Trông chờ vào chính nội lực của mình”
TH&SP Đó là lời khuyên của Ts. Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương (CIEM) khi chia sẻ về các biện pháp hỗ trợ kinh doanh, phục hồi kinh tế cho doanh nghiệp hậu Covid-19. Theo ông, không thể trông chờ hỗ trợ gì thêm từ những giải pháp hỗ trợ manh mún, theo kiểu kẹt xỉn, không ra tấm, ra món và không kịp thời.
Loay hoay đối phó với dịch Covid-19
Dịch Covid-19 đã tác động không nhỏ đến toàn bộ đời sống xã hội. Trong đó, khu vực doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề như: thiếu hụt nguồn vốn sản xuất kinh doanh; thiếu hụt nguồn nguyên liệu trong nước, từ nhập khẩu; hàng hóa sản xuất không tiêu thụ được cả trong nước cũng như xuất khẩu; hoạt động sản xuất kinh doanh không vận hành hoặc hoạt động cầm chừng; không có nguồn thu để bù đắp cho các chi phí phát sinh…
Tất cả đã tác động làm sụt giảm nghiêm trọng doanh thu của doanh nghiệp. Theo khảo sát của Trường Đại học kinh tế quốc dân, đến 1/4/2020, có đến 34,9% doanh nghiệp bị giảm doanh thu sâu 30 -50%; có 28,4% doanh nghiệp giảm 50 - 80% doanh thu và 20,2% giảm từ 80% trở lên.

Ts. Nguyễn Đình Cung
Trong khi đó, gánh nặng chi phí đối với doanh nghiệp như chi phí thuê mặt bằng, trả nhân công lao động, trả lãi vay ngân hàng, chi phí hoạt động thường xuyên… không hề giảm. Hệ quả là số lượng, quy mô doanh nghiệp suy giảm cùng với lao động mất việc làm và thất nghiệp gia tăng. Tính đến 20/03/2020, đã có trên 15% số doanh nghiệp phải cắt giảm quy mô sản xuất (tháng 2 là 10%). Số lao động bị giảm giờ làm hoặc bị mất việc làm ước tính khoảng 880.000-1,32 triệu người. Đó là những động thái tức thì của doanh nghiệp để ứng phó với dịch Covid-19. Có đến 70% doanh nghiệp cắt giảm chi phí hoạt động thường xuyên. Gần 40% doanh nghiệp cắt giảm lao động, quy mô sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, cắt lương, giảm lương, chuyển đổi hình thức sản xuất kinh doanh hoặc tạm dừng.
Kịch bản từ nay đến hết năm 2020 mà Đại học kinh tế quốc dân đưa ra cho doanh nghiệp không hề tươi sáng. Đó là, nếu dịch bệnh kéo dài đến tháng 12/2020 thì có đến gần 40% doanh nghiệp phá sản; gần 36% doanh nghiệp tạm dừng hoạt động; gần 18% tiếp tục cắt giảm quy mô và khoảng 7% tiếp tục duy trì.
Hỗ trợ không kịp thời, kẹt xỉn, manh mún
Đối mặt với những khó khăn do đại dịch toàn cầu, ngoài việc tự tìm cách tháo gỡ để vượt qua, doanh nghiệp mong muốn nhận được sự hỗ trợ từ Chính phủ và các bộ, ngành. Những vấn đề cấp thiết doanh nghiệp quan tâm là gia hạn thời hạn nộp thuế GTGT, thuế TNDN, thuế đất; cơ cấu lại thời hạn trả nợ, các khoản nợ; miễn, giảm lãi, phí ngân hàng; cắt giảm thủ tục hành chính cho doanh nghiệp; hỗ trợ vay vốn với lãi suất ưu đãi; tạm dừng đóng BHXH, kinh phí công đoàn; không tăng chi phí điện nước.

Sức mua giảm sút, sản xuất kinh doanh liệu có phục hồi?
Tuy nhiên, trước những mong muốn cấp thiết đó của doanh nghiệp, theo Ts. Nguyễn Đình Cung, sự hỗ trợ không kịp thời, kẹt xỉn, manh mún, không ra tấm, ra món. Theo ông, những định hướng chính sách là phù hợp nhưng đại bộ phận đang nằm ở “chỉ đạo làm chính sách”. Mức độ hỗ trợ (đã có, hy vọng và chờ đợi) đều quá nhỏ so với mức độ thiệt hại của doanh nghiệp, so với mức hỗ trợ của chính phủ các nước cho doanh nghiệp của họ. Việc miễn và giảm nghĩa vụ thuế, phí quá ít, hầu như chưa có. Một số điều kiện hỗ trợ không hợp lý, không thực tế…
Ts. Nguyễn Đình Cung cho biết thêm, quy trình ra quyết định trên lĩnh vực kinh tế-xã hội là rất chậm. Cho tới nay, chưa có quyết sách gì từ quốc hội, từ các cơ quan của Đảng, so với các quốc gia khác. Các cơ quan có thẩm quyền, các nhánh quyền lực còn ý kiến khác nhau. Chính phủ,Thủ tướng rất ít thẩm quyền ra chính sách. Thủ tướng rất nhiều quyền nhưng phần lớn là vụ việc, giải quyết vụ việc trong quy trình thủ tục hành chính. Các bộ phản ứng rất chậm, sức ỳ lớn. Như quyết định thí điểm mobile money; tập hợp, kiến nghị miễn giảm các loại loại phí như phí công đoàn… Trong khi đó, các bộ, cơ quan quản lý nhà nước tạo ra vấn đề vì quyền lợi cục bộ thì rất nhanh. Như vụ mã số, mã vạch, hay nghị định 68… Nhưng giải quyết vấn đề, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh chậm, có phần dây dưa.
Bên cạnh đó, hàng loạt chỉ đạo chắc chắn chưa biết khi nào trở thành hiện thực. Ts. Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh. Vì vậy, ông khuyến cáo doanh nghiệp “trông chờ vào chính nội lực của mình”.
Thiên Kim








