Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 đã được phê duyệt

Diễn biến - Dự báo 26/05/2026 10:21

Ngày 25/5/2026, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã ký Quyết định số 929/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 (Chương trình).

Công nghiệp hỗ trợ là trụ cột then chốt

 Quyết định khẳng định công nghiệp hỗ trợ là trụ cột then chốt, bảo đảm nền công nghiệp quốc gia phát triển bền vững, tự chủ và hiện đại. Việc đẩy mạnh lĩnh vực này nhằm xây dựng năng lực sản xuất nội sinh, giảm áp lực nhập khẩu linh phụ kiện và thiết bị đầu vào, đồng thời thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức "hai con số".

Chiến lược mới nhấn mạnh yêu cầu gắn kết phát triển công nghiệp hỗ trợ với việc nâng cao vị thế doanh nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu. Định hướng hỗ trợ sẽ lấy tiêu chuẩn kỹ thuật và tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp dẫn dắt làm thước đo chủ đạo. Trong mô hình này, cộng đồng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ được xác định là lực lượng nòng cốt, đóng vai trò trung tâm trong đổi mới sáng tạo và mở rộng thị trường. Về phía Nhà nước, vai trò kiến tạo sẽ được tập trung vào xây dựng thể chế minh bạch, hỗ trợ nguồn lực và khoa học công nghệ.

img5204-17785620248811289205937_1779764240.jpg
Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Túc.

Việc phát triển công nghiệp hỗ trợ phải gắn chặt với đổi mới công nghệ và chuyển đổi số, hướng tới mục tiêu tự lực, tự cường về khoa học kỹ thuật. Quá trình này cần đẩy mạnh tự động hóa, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn môi trường và năng lượng theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá sáng tạo quốc gia.

Chiến lược xác định lấy thị trường nội địa làm bệ đỡ và thị trường quốc tế làm động lực tăng trưởng. Việc triển khai chương trình cần song hành với mở rộng thị trường, nhằm tối ưu khả năng cung ứng linh phụ kiện cho cả khối FDI lẫn doanh nghiệp trong nước, tận dụng tối đa các hiệp định thương mại tự do để vươn tầm xuất khẩu.

Phát triển công nghiệp hỗ trợ đòi hỏi sự tập trung vào các chuỗi cung ứng và cụm sản phẩm quy mô lớn. Thước đo hiệu quả chủ yếu dựa trên giá trị gia tăng tạo ra trong nước, tỷ lệ nội địa hóa thực tế và khả năng thâm nhập sâu vào mạng lưới cung ứng toàn cầu của các doanh nghiệp Việt.

Mục tiêu cốt lõi của Chương trình là thúc đẩy ngành công nghiệp hỗ trợ lớn mạnh, từng bước làm chủ kỹ thuật sản xuất các đầu vào quan trọng. Đồng thời, tăng cường sự gắn kết giữa doanh nghiệp nội và khối ngoại, hình thành hệ sinh thái sản phẩm có mặt trong các chuỗi giá trị quốc tế bền vững.

Đến năm 2030, phấn đấu để một số ngành chủ lực đạt tỷ lệ nội địa hóa trung bình từ 40 - 45%, đưa chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp Việt Nam lọt vào nhóm 3 quốc gia đứng đầu khu vực ASEAN.

Tạo ra bước đột phá về chất, lấy khoa học công nghệ làm đòn bẩy nâng cao sức cạnh tranh cho toàn ngành. Trọng tâm dồn lực vào các lĩnh vực nền tảng, công nghiệp mũi nhọn, xanh hóa sản xuất và các ngành phục vụ an ninh quốc phòng, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển chiều sâu.

Hỗ trợ doanh nghiệp theo chuỗi cung ứng để nâng cao trình độ quản trị và chất lượng sản phẩm. Mục tiêu là xây dựng đội ngũ doanh nghiệp hạt nhân, giúp các đơn vị nội địa đủ năng lực trở thành nhà cung cấp cấp 1, cấp 2 cho các tập đoàn dẫn dắt trong và ngoài nước. Tập trung nguồn lực phát triển phụ trợ cho các ngành: điện tử thông minh, thiết bị năng lượng, đường sắt, ô tô, cơ khí tự động hóa, công nghệ cao và dệt may - da giày theo hướng kinh tế xanh. 

vnf-nuoc-moi-cong-nghiep-hoa-1570009990116662696483_1779764102.jpg
Ảnh minh họa.

Nỗ lực đưa tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều nhóm ngành đạt mức cao tới 75%.

Đến năm 2030, tập trung kết nối doanh nghiệp phụ trợ với các đối tác lớn trong các ngành then chốt như điện tử, năng lượng, ô tô và cơ khí. Xây dựng nền công nghiệp có sức chống chịu cao, làm chủ công nghệ lõi để tăng tính tự chủ cho nền kinh tế, hướng tới mục tiêu tăng trưởng đạt mức "hai con số".

Về tỷ lệ nội địa hóa cụ thể: ngành điện tử đạt 25 - 30%; cơ khí chế tạo đạt 40%; ô tô 22 - 30%; dệt may 60%; da giày 60 - 65% và công nghệ cao đạt 15%.

Về phát triển doanh nghiệp: Dự kiến hỗ trợ tư vấn và đào tạo quản trị chuẩn quốc tế cho 600 đơn vị, trong đó 400 doanh nghiệp áp dụng thành công. Hỗ trợ 80 doanh nghiệp nâng cao năng lực R&D, với 40 đơn vị triển khai hiệu quả đổi mới công nghệ và nhận chuyển giao kỹ thuật, bao gồm 6 công nghệ xử lý vật liệu và 8 công nghệ lõi thông minh cho ngành dệt may - da giày. Tầm nhìn đến năm 2035, công nghiệp hỗ trợ Việt Nam sẽ sở hữu trình độ tiên tiến, sản phẩm đạt chuẩn quốc tế và tham gia sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các doanh nghiệp sẽ chủ động hoàn toàn trong nghiên cứu, thiết kế và chế tạo, đồng thời sử dụng năng lượng hiệu quả.

Phấn đấu tỷ lệ nội địa hóa: Điện tử đạt 35 - 40%; cơ khí chế tạo 50%; ô tô 32 - 40%; dệt may 70%; da giày 70 - 75% và công nghệ cao 20%. Tiếp tục hỗ trợ đào tạo quản trị cho 900 doanh nghiệp, mục tiêu 600 đơn vị vận hành thành công hệ thống mới theo yêu cầu quốc tế.Dự kiến hỗ trợ 120 doanh nghiệp có khả năng nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm, trong đó 60 đơn vị ứng dụng thành công các giải pháp công nghệ mới và tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật hiệu quả.

Linh Hương
Tin đáng đọc