Các thách thức với an ninh nguồn nước, quản lý an toàn hồ đập
TH&SP Sáng 17/8, tại Nhà Quốc hội, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội tổ chức Hội nghị giải trình về “An ninh nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt và quản lý an toàn hồ đập”.
Báo cáo sơ bộ kết quả khảo sát tại 12 công trình hồ, đập; 4 nhà máy, trạm cấp nước; 3 nhà máy thủy điện ở 14 tỉnh, thành phố, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Nguyễn Vinh Hà cho biết: trữ lượng nước vẫn tương đối dồi dào. Tuy nhiên, lượng nước phân bố không đều theo thời gian và không gian, trong một tỉnh cũng có sự phân bố nước không đồng đều. Mặc dù chất lượng nước mặt, nước ngầm tương đối tốt, trữ lượng dồi dào nhưng nguồn nước này đang có nguy cơ ô nhiễm từ hoạt động xả thải, đặc biệt với các sông chảy qua đô thị...
Về an toàn hồ, đập, các đập quan trọng, hồ chứa nước lớn có độ an toàn cao do được kiểm soát tốt từ khâu xây dựng, có quy trình vận hành, có tổ chức quản lý đủ điều kiện, được duy tu, bảo dưỡng thường xuyên. Tuy nhiên, đập, hồ chứa nước vừa và nhỏ có nguy cơ mất an toàn cao do bị hư hỏng, xuống cấp. Nhiều hồ, đập không có quy trình vận hành khi thiết kế; không được kiểm định trước mùa mưa lũ; không có trang thiết bị quan trắc, giám sát an toàn.

Có tám thách thức đe dọa an ninh nguồn nước, quản lý an toàn hồ đập (Ảnh minh họa)
Ông Nguyễn Vinh Hà cho biết thêm, trong tháng 7/2020, Ủy ban này đã tổ chức 2 đợt khảo sát về nội dung phiên giải trình tại 14 tỉnh, thành phố trên cả nước, qua đó đã chỉ ra 8 thách thức đối với an ninh nguồn nước của Việt Nam.
Thứ nhất đó là vấn đề thiếu nước do lượng phân bố không đều theo không gian và thời gian. Mùa mưa lũ thì nước nhiều gây lũ, lụt. Mùa khô thì hạn hán, xâm nhập mặn; thiếu nước do quản trị nước còn hạn chế, chưa tích trữ được nước tại chỗ, chưa điều chuyển nước được từ nơi thừa sang nơi thiếu.
Thứ hai là tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đe dọa nguồn nước ngọt của các sông, nước dưới đất. Biến đổi khí hậu kéo theo hiện tượng thời tiết cực đoan làm gia tăng các loại hình thiên tai như bão, lũ, mưa lớn, hạn hán, xâm mặn. Đặc biệt là xâm nhập mặn, lũ ống, lũ quét,... gây áp lực lên hệ thống thủy lợi, mực nước biển dâng cao, hạn chế diện tích canh tác.
Thứ ba là vấn đề ô nhiễm nguồn nước từ các hoạt động sản xuất, sinh hoạt. Do tăng dân số, phát triển kinh tế-xã hội nên gia tăng vấn đề xả thải vào nguồn nước các sông, suối. Hạn hán kéo dài dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn vào sâu hơn, ảnh hưởng đến việc cấp nước sinh hoạt, sản xuất của nhiều địa phương.
Thứ tư nhắc tới đó là nguồn nước phụ thuộc lớn vào nguồn nước sông quốc tế. Tuy Việt Nam có tới 3.500 sông suối có chiều dài từ 10km trở lên, có 13 lưu vực sông có diện tích lớn hơn 10.000km2 nhưng có 7 lưu vực sông liên quốc gia, phần lưu vực ở nước ngoài chiếm tới 71% lại ở khu vực đầu nguồn. Do đó, Việt Nam chịu rủi ro về lượng nước, chất lượng nước rất lớn do các quốc gia thượng nguồn gia tăng các hoạt động thủy điện trên dòng chính sông Hồng, sông Mekong làm thay đổi lớn chế độ dòng chảy, lượng nước phù sa…

Cần đổi mới tư duy, hoàn thiện quy định pháp luật trong quản lý nguồn nước, hồ, đập (Ảnh minh họa). Nguồn TTXVN
Thứ năm là khả năng tiếp cận nguồn nước sạch, an toàn cho sản xuất, sinh hoạt của người dân, đặc biệt với địa bàn có điều kiện địa lý, điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
Thứ sáu là thách thức về mâu thuẫn trong sử dụng nước trên cùng lưu vực sông cũng như cho các mục đích sử dụng.
Thứ bảy đó là vấn đề bảo vệ nguồn sinh thủy. Hiện nay, chất lượng và diện tích rừng đầu nguồn giảm, ảnh hưởng lớn đến khả năng giữ nước của các lưu vực sông. Thêm vào đó, việc trồng rừng bằng cây công nghiệp, cây keo, bạch đàn, cao su cũng không có tác dụng trữ nước trên lưu vực.
Thứ tám là thách thức cuối cùng đó là hiệu quả sử dụng nước thấp, năng lực khai thác công trình thủy lợi còn chưa đáp ứng yêu cầu.
Liên quan đến quản lý an toàn hồ, đập, ông Hà cũng lưu ý đến tình trạng đập, hồ chứa quan trọng, hồ chứa nước lớn có thì độ an toàn cao do được kiểm soát tốt từ khâu xây dựng, có quy trình vận hành, có tổ chức quản lý đủ điều kiện, được duy tu, bảo dưỡng thường xuyên. Tuy nhiên, những đập, hồ chứa nước vừa và nhỏ có nguy cơ mất an toàn cao do bị hư hỏng, xuống cấp. Nhiều hồ, đập được xây dựng cách đây 30 - 50 năm, điều kiện thiết kế, thi công còn hạn chế, chủ yếu là đập đất nên khả năng mất an toàn cao. Nhiều hồ, đập không có quy trình vận hành khi thiết kế; không được kiểm định trước mùa mưa lũ; không có trang thiết bị quan trắc, giám sát an toàn.
Mặc dù các tỉnh đều quan tâm bố trí nguồn vốn để duy tu bảo dưỡng công trình nhưng do số lượng hồ, đập bị hư hỏng lớn nên vẫn còn không ít hồ đập hư hỏng nghiêm trọng chưa được sửa chữa, không bảo đảm an toàn trong mùa mưa lũ. Ví dụ, ở Thanh Hóa còn 50% hồ xuống cấp cần phải tu sửa, trong đó có 90 hồ trong tình trạng hư hỏng nặng, 78 hồ chứa mất an toàn. Hà Tĩnh có 90 hồ hư hỏng, xuống cấp, 57 hồ có nguy cơ mất an toàn cao. Tại Hòa Bình, trong tổng số 544 hồ chứa có tới 192 hồ hư hỏng xuống cấp.
Bên cạnh đó, tại hội nghị phát biểu về chỉ đạo, định hướng, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đề nghị đặt mục tiêu năm 2045 phải chủ động được nguồn nước ngọt cho nhu cầu sản xuất và nước ngọt sinh hoạt đạt tiêu chuẩn cho khoảng 125 triệu dân; chất lượng nước phải đồng đều giữa thành thị và nông thôn... Do đó, cần đổi mới tư duy, hoàn thiện quy định pháp luật trong quản lý an ninh nguồn nước, an toàn hồ, đập; phải coi nước là hàng hóa đặc biệt để có biện pháp sử dụng hợp lý; tập trung các giải pháp xử lý ô nhiễm nguồn nước; tăng cường quan hệ quốc tế trong bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn hồ, đập...
Yên Thư







