Bộ NN&MT: Cấp mã số vùng trồng theo cơ chế hậu kiểm, người sản xuất phải tự chịu trách nhiệm
Việc đơn giản hóa thủ tục cấp mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ không làm giảm yêu cầu quản lý. Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, quy định mới chuyển mạnh sang cơ chế hậu kiểm, yêu cầu người sản xuất, doanh nghiệp chủ động kê khai, chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin và duy trì các điều kiện phục vụ xuất khẩu.
Tại Hội nghị triển khai Nghị quyết số 36 của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói diễn ra ngày 4/8, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) nhấn mạnh việc cải cách thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý, mà hướng tới tăng tính minh bạch và nâng cao trách nhiệm của các bên tham gia.
Mã số vùng trồng được quản lý theo yêu cầu từng thị trường
Ông Huỳnh Tấn Đạt, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, cho biết mã số vùng trồng không phải là giấy phép chung để xuất khẩu vào mọi quốc gia. Việc công nhận mã số phụ thuộc vào quy định và cơ chế quản lý của từng thị trường nhập khẩu.
Theo đó, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Malaysia, Đài Loan (Trung Quốc) và Hàn Quốc đối với một số mặt hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu trực tiếp phê duyệt danh sách mã số do Việt Nam đề xuất. Vì vậy, dù đã được cấp mã trong nước, vùng trồng vẫn chưa đủ điều kiện xuất khẩu nếu chưa được phía đối tác chấp thuận.
Ngược lại, các thị trường như Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Australia, New Zealand, Chile hay Thái Lan chủ yếu chấp nhận hệ thống quản lý mã số của Việt Nam và thực hiện kiểm tra sau. Điều này đòi hỏi quy trình cấp mã phải được xây dựng phù hợp với yêu cầu riêng của từng thị trường.
Nghị quyết số 36 được xem là bước cải cách quan trọng trong lĩnh vực trồng trọt, thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong đẩy mạnh phân cấp, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số và đổi mới phương thức quản lý.
Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị quyết 36 là chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm. Thay vì cơ quan quản lý kiểm tra toàn bộ điều kiện trước khi cấp mã, tổ chức và cá nhân sẽ tự kê khai thông tin, tự chịu trách nhiệm về hồ sơ. Cơ quan chức năng tiếp nhận, xử lý trên môi trường điện tử và tăng cường giám sát sau khi cấp mã.
Toàn bộ thủ tục được thực hiện thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia bằng tài khoản VNeID. Người đăng ký phải khai báo rõ thị trường xuất khẩu để cơ quan chuyên môn áp dụng đúng quy trình kỹ thuật tương ứng.
Tại hội nghị, nhiều địa phương cũng đề nghị Bộ NN&MT sớm ban hành hướng dẫn thống nhất. Lâm Đồng kiến nghị làm rõ quy định đối với mô hình trồng xen cà phê với sầu riêng và tăng cường tập huấn cho cán bộ cấp xã. Trong khi đó, Đắk Lắk đề xuất tháo gỡ các khó khăn liên quan đến mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và năng lực kiểm nghiệm trước vụ thu hoạch sầu riêng.
Chuyển từ "xin - cho" sang tự kê khai, tự chịu trách nhiệm
Theo Thứ trưởng Bộ NN&MT Nguyễn Hoàng Hiệp, tinh thần của Nghị quyết 36 không chỉ là cắt giảm thủ tục hành chính mà còn thay đổi phương thức quản lý theo hướng hiện đại, dựa trên dữ liệu và cơ chế hậu kiểm.
Ông nhấn mạnh, khi thủ tục được đơn giản hóa thì trách nhiệm của người sản xuất và doanh nghiệp càng phải được nâng cao. Mọi thông tin kê khai phải đảm bảo trung thực và các điều kiện sản xuất phải được duy trì xuyên suốt sau khi được cấp mã.
Lãnh đạo Bộ NN&MT cũng cảnh báo, nếu việc cấp mã chỉ dừng ở quy mô từng thửa đất nhỏ lẻ sẽ dẫn đến số lượng mã số quá lớn, gây khó khăn trong quá trình đăng ký với các thị trường yêu cầu phê duyệt trước.
Do đó, bên cạnh việc định danh đến từng thửa đất nhằm phục vụ truy xuất nguồn gốc, các địa phương cần thúc đẩy phát triển vùng nguyên liệu tập trung, tổ hợp tác và hợp tác xã để liên kết các hộ sản xuất thành những vùng đủ quy mô phục vụ xuất khẩu.
Theo ông Nguyễn Hoàng Hiệp, dữ liệu về thửa đất, hộ sản xuất, quy trình canh tác, cơ sở đóng gói và doanh nghiệp xuất khẩu sẽ là nền tảng giúp truy xuất chính xác khi xảy ra vi phạm, tránh phải đình chỉ hoạt động của toàn bộ vùng trồng.
Để Nghị quyết 36 sớm phát huy hiệu quả, Bộ NN&MT đề nghị các địa phương đẩy nhanh xử lý hồ sơ tồn đọng, bảo đảm nguồn lực cho cấp xã, gắn việc cấp mã với xây dựng vùng nguyên liệu tập trung và thiết lập cơ chế giám sát nhiều cấp từ người sản xuất, doanh nghiệp đến cơ quan quản lý.
Bộ cũng lưu ý, mã số vùng trồng chỉ là một trong những điều kiện để xuất khẩu nông sản. Hàng hóa vẫn phải đáp ứng đầy đủ các quy định về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm, quy trình sản xuất và tiêu chuẩn kỹ thuật của từng thị trường nhập khẩu.