Việt Nam giữ vững vị thế top 3 xuất khẩu thủy sản thế giới
Giai đoạn 10 năm qua chứng kiến bước tiến vượt bậc của ngành thủy sản khi kim ngạch xuất khẩu đạt 11,3 tỷ USD, giữ vững top 3 quốc gia xuất khẩu lớn nhất toàn cầu. Đây là nền tảng vững chắc để toàn ngành hội nhập sâu rộng, hướng tới phát triển xanh và bền vững.
Tăng trưởng ấn tượng và dấu ấn chinh phục thị trường
Bức tranh toàn cảnh của thị trường thủy sản nước ta trong một thập kỷ qua mang gam màu sáng với tốc độ tăng trưởng cao, ổn định. Giai đoạn 2015-2025, giá trị gia tăng lĩnh vực thủy sản đã vươn lên mạnh mẽ, tăng gần gấp đôi. Sự đóng góp của thủy sản vào GDP toàn ngành nông - lâm - thủy sản đã có bước tiến dài, tăng từ mức 18% của năm 2010 lên 21,5% vào năm 2025. Nhờ định hướng đúng đắn, nước ta từ một quốc gia xuất khẩu thủy sản quy mô nhỏ bé, chỉ vượt mốc 1 tỷ USD vào năm 2000, nay đã chễm chệ đứng thứ 3 thế giới, chỉ xếp sau hai cường quốc là Trung Quốc và Na Uy.
Đến năm 2025, giá trị xuất khẩu thủy sản đã cán mốc 11,3 tỷ USD, chiếm khoảng 6% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản trên toàn cầu. Bước sang 5 tháng đầu năm 2026, bất chấp những rào cản chung của thương mại quốc tế, kim ngạch xuất khẩu vẫn đạt 4,65 tỷ USD, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước. Hai trụ cột chính mang tính định vị thương hiệu quốc gia là tôm và cá tra tiếp tục duy trì sức hút mạnh mẽ. Cụ thể, xuất khẩu tôm mang về gần 4,6 tỷ USD, chiếm hơn 40% tổng kim ngạch, giúp nước ta củng cố thị phần 12% trên toàn cầu. Khối lượng xuất khẩu cá tra cũng ghi nhận mức hơn 2 tỷ USD, duy trì lợi thế mạng lưới khách hàng sâu rộng.
Sự bứt phá ngoạn mục này có được một phần lớn là nhờ chiến lược quy hoạch và mở rộng vùng nuôi hiệu quả, đặc biệt tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đất trù phú này tiếp tục đóng vai trò là vựa thủy sản số một cả nước với sản lượng trên 4 triệu tấn. Cùng với nuôi trồng trên diện tích mặt nước đất liền, lĩnh vực nuôi biển cũng đang được đánh thức, mở ra những dư địa tăng trưởng đầy mới mẻ với sản lượng xấp xỉ 860.000 tấn vào năm 2025.
Chia sẻ về những tín hiệu đầy lạc quan của thị trường xuất khẩu, ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhận định, xuất khẩu thủy sản vẫn có nhiều triển vọng tăng trưởng để đạt mục tiêu xuất khẩu hơn 12 tỷ USD nhờ nhu cầu phục hồi tích cực tại thị trường Trung Quốc và nhu cầu cá thịt trắng tăng nhờ giá hợp lý.
Bẫy chi phí cao và sức ép cạnh tranh toàn cầu
Dù gặt hái được những thành tựu vô cùng ấn tượng, ngành hàng tỷ USD của nước ta vẫn đang phải đối diện với những lực cản không hề nhỏ trên sân chơi quốc tế. Một trong những rào cản cốt lõi và nhức nhối nhất hiện nay là việc các vùng nuôi đang mắc kẹt trong "bẫy chi phí cao". Nguyên nhân sâu xa đến từ việc nước ta chưa hoàn toàn tự chủ được con giống chất lượng và nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn. Việc phụ thuộc quá lớn vào nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu khiến tỷ lệ sống hao hụt nhiều, trong khi chi phí thức ăn hiện chiếm tới 64% giá thành và hơn 60% nguyên liệu sản xuất lại phải nhập ngoại.
Hệ quả tất yếu là giá thành sản xuất tôm thương phẩm của nước ta đang bị đẩy lên cao hơn các đối thủ cạnh tranh trực tiếp như Ecuador và Ấn Độ từ 20-30%. Minh chứng là chi phí sản xuất một kg tôm cỡ 50 con tại Ecuador chỉ ở mức 2,4 USD, tại Ấn Độ là 2,9 USD, thì người nuôi tôm tại Việt Nam phải bỏ ra tới 4,25 USD. Bài toán chi phí này đã đẩy ngành tôm vào một thế trận cạnh tranh về giá vô cùng khốc liệt trên các quầy kệ siêu thị quốc tế. Ở mảng cá tra, chúng ta cũng không còn giữ được vị thế độc quyền tuyệt đối trước sự tăng tốc trỗi dậy mạnh mẽ từ vùng nuôi nội địa của Indonesia hay Ấn Độ.
Cùng với áp lực về chi phí sản xuất, hàng rào kỹ thuật phi thuế quan từ các thị trường nhập khẩu khó tính cũng ngày một thắt chặt. Điển hình nhất là yêu cầu phải nhanh chóng gỡ bỏ "thẻ vàng" IUU của Ủy ban Châu Âu (EC). Đây không đơn thuần là một rào cản thương mại có tính chất thời điểm, mà thực chất là một bài kiểm tra nghiêm ngặt về năng lực minh bạch thông tin tàu cá và quản trị tài nguyên biển. Song song đó, các quy định khắt khe từ Đạo luật Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU hay những tiêu chuẩn của cơ quan thanh tra Mỹ (FSIS) đang bủa vây các doanh nghiệp xuất khẩu.
Nhìn nhận về những thách thức nội tại của ngành, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp chỉ ra rằng, một nút thắt lớn hiện nay là sự phụ thuộc vào dạng sản phẩm thô, sơ chế hoặc fillet đông lạnh, khiến giá trị gia tăng thu về chưa cao. Thêm vào đó, những diễn biến cực đoan từ biến đổi khí hậu như bão lũ ở phía Bắc, xâm nhập mặn nghiêm trọng tại miền Nam, cùng xu hướng dịch chuyển lao động làm thiếu hụt nhân lực tay nghề cao đang đe dọa trực tiếp tiến trình hiện đại hóa của toàn ngành.
Chuyển đổi xanh để vươn tầm chuỗi giá trị toàn cầu
Để lèo lái con thuyền xuất khẩu thủy sản vượt qua những cơn sóng lớn và định vị lại thương hiệu trên thị trường quốc tế, chuyển đổi xanh gắn với kinh tế tuần hoàn là kim chỉ nam xuyên suốt. Ngành thủy sản bắt buộc phải chuyển dịch từ tư duy phát triển theo chiều rộng thâm dụng tài nguyên sang con đường phát triển bền vững, nâng cao chất lượng và tối ưu hóa hệ giá trị trên từng đơn vị sản phẩm.
Giải pháp nền tảng đầu tiên là phải tạo ra bước đột phá về công nghệ sinh học và tự chủ nguồn giống. Đặt mục tiêu chủ động 100% nguồn tôm bố mẹ chất lượng cao và các dòng cá giống đặc sản sẽ giúp hạ nhiệt giá thành ngay từ vạch xuất phát. Các mô hình kỹ thuật cao như hệ thống nuôi tuần hoàn trong nhà màng (RAS), công nghệ Biofloc kiểm soát tuyệt đối an toàn sinh học cần được phủ sóng rộng rãi. Đồng thời, việc số hóa toàn diện thông qua cảm biến IoT để giám sát nguồn nước và dùng trí tuệ nhân tạo (AI) phân tích dịch bệnh sẽ giúp tối ưu hóa hệ số chuyển đổi thức ăn một cách triệt để.
Bên cạnh khâu sản xuất, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu cũng cần một cuộc đại phẫu để tiến vào phân khúc lợi nhuận cao. Đối với tôm và cá tra, chiến lược trọng tâm là chuyển dịch mạnh mẽ sang chế biến sâu, tung ra các sản phẩm ăn liền mang giá trị gia tăng lớn thay vì xuất khẩu thô. Hơn thế nữa, cần quy hoạch bài bản để mở rộng các dòng sản phẩm ngách có giá trị kinh tế đặc biệt cao như cá biển sâu, tôm hùm, rong tảo biển hay hải sâm nhằm phục vụ lớp khách hàng tinh hoa tại các thị trường cao cấp như Nhật Bản, EU và Hoa Kỳ.
Đề cập đến động lực tăng trưởng mới trong thời kỳ hội nhập, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp nhấn mạnh việc định hình ngành công nghiệp chế biến phụ phẩm thủy sản thành một trụ cột kinh tế. Toàn bộ nguồn đầu cá, vỏ tôm chiếm tới gần 40% nguyên liệu thô cần được ứng dụng công nghệ sinh học để chiết xuất các hợp chất hữu cơ tỷ đô như Chitosan, Collagen hay Peptides sinh học. Cùng với việc khuyến khích các mô hình nuôi trồng sinh thái dưới tán rừng ngập mặn hay tích hợp năng lượng tái tạo, ngành thủy sản Việt Nam sẽ xây dựng thành công "dấu chân carbon" thấp, sẵn sàng đáp ứng mọi luật chơi xanh của thương mại toàn cầu.





