Vị Thượng tướng vừa được đặt tên cho một đường phố tại Hà Nội: 17 tuổi sang Trung Quốc học quân sự, nặng tình nghĩa với quân dân Lào
Từ chàng trai dân tộc Tày sớm giác ngộ cách mạng, Thượng tướng Vũ Lập trưởng thành qua những năm tháng chiến đấu, là vị tướng dày dạn trận mạc vừa được Hà Nội đặt tên phố.
Mới đây, nhân kỷ niệm 72 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954-10/10/2026), UBND phường Long Biên (Hà Nội) đã tổ chức lễ gắn biển tên phố Vũ Lập.
Tên phố Vũ Lập được HĐND TP. Hà Nội thông qua ngày 15/7/2026 theo Nghị quyết số 91/2026/NQ-HĐND.
Theo đó, tuyến phố Vũ Lập dài 1.816m, rộng 21,25m, trong đó lòng đường rộng 11,25m, vỉa hè hai bên rộng 5m mỗi bên. Điểm đầu của phố tại nút giao đường Cổ Linh, điểm cuối tại nút giao phố Đàm Quang Trung, thuộc tổ dân phố 21, phường Long Biên.
Theo Báo Cao Bằng, Thượng tướng Vũ Lập (1924-1987), tên thật là Nông Văn Phách, người dân tộc Tày, sinh tại làng Nà Mạ, xã Vinh Quang, huyện Hòa An cũ, tỉnh Cao Bằng. Ông sớm tham gia hoạt động cách mạng và bộc lộ tố chất quân sự.
Năm 17 tuổi, ông được tổ chức cử sang Quảng Tây (Trung Quốc) học quân sự, cùng lớp với những cán bộ sau này trở thành các tướng lĩnh, chỉ huy chủ chốt như Hoàng Văn Thái, Quang Trung, Nam Long...
Tháng 12/1944, ông gia nhập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đầu năm 1945, ông cùng đơn vị tiến về phía Nam, phối hợp với Cứu quốc quân.
Sau đó, ông được giao làm Đại đội trưởng Đại đội Bắc Sơn, tham gia chiến đấu giải phóng Thái Nguyên, rồi tiến về Hà Nội, góp phần bảo vệ lễ Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình.
Năm 1946, khi mới 22 tuổi, ông được giao trọng trách Trung đoàn trưởng Trung đoàn 140. Đơn vị đảm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ trong quá trình sơ tán từ Hà Nội qua Sơn Tây lên Việt Bắc an toàn.
Trong những năm tiếp theo, ông lần lượt giữ các cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 140, Trung đoàn 209, Trung đoàn 148 và Tham mưu trưởng Đại đoàn 316. Trên các chiến trường rừng núi Việt Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc, ông cùng đồng đội tham gia nhiều chiến dịch, góp phần lập nên những chiến công trong cuộc kháng chiến.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Vũ Lập được cử đi học tại Trường Quân sự cao cấp ở nước ngoài. Trở về nước, ông lần lượt giữ các chức vụ Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng rồi Tư lệnh Quân khu Tây Bắc. Gần 20 năm gắn bó với địa bàn chiến lược này, ông vừa chỉ đạo xây dựng, ổn định đời sống nhân dân, vừa đảm nhiệm nhiệm vụ quốc phòng và phối hợp chiến đấu, thực hiện nghĩa vụ quốc tế tại Lào.
Tháng 11/1967, ông được giao làm Tư lệnh Chiến dịch Nặm Bạc. Chiến dịch kết thúc thắng lợi ngày 21/1/1968, đánh dấu bước tiến trong nghệ thuật tác chiến hiệp đồng giữa quân đội Việt Nam và Lào.
Ngày 14/6/1969, đồng chí Vũ Lập tiếp tục chỉ huy liên quân Việt - Lào trong chiến dịch tiến công Mường Sủi, góp phần kết nối các vùng giải phóng ở Bắc Lào.
Đến ngày 25/10 cùng năm, ông làm Tư lệnh Chiến dịch 139 tiến công Cánh đồng Chum. Sau sáu tháng chiến đấu, liên quân đánh bại cuộc hành quân Cù Kiệt, giữ vững vùng giải phóng.
Năm 1970, ông được giao làm Tư lệnh Đoàn 959 Quân tình nguyện Việt Nam và Tư lệnh Mặt trận 316, chỉ huy lực lượng phối hợp với quân đội cách mạng Lào mở Chiến dịch Z. Sau 115 ngày đêm chiến đấu, liên quân giành lại khu vực Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng. Tháng 2/1972, ông tiếp tục làm Tư lệnh Chiến dịch 31, chỉ huy lực lượng bảo vệ địa bàn chiến lược này.
Tháng 4/1974, đồng chí Vũ Lập được phong quân hàm Thiếu tướng, tiếp tục giữ chức Tư lệnh Quân khu Tây Bắc.
Năm 1976, ông được bầu làm Ủy viên Trung ương Đảng, giữ chức Trưởng ban Dân tộc Trung ương kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Chính phủ.
Năm 1978, ông làm Tư lệnh Quân khu 2 và đến năm 1984 được phong quân hàm Thượng tướng.
Xuất thân trong một gia đình nông dân dân tộc Tày, Nông Văn Phách đã trưởng thành qua từng năm chiến đấu, chỉ huy trên các chiến trường, đóng góp quan trọng làm nên nhiều chiến thắng.
Ông có 3 khóa liên tiếp là Ủy viên Trung ương Đảng (khóa IV, V, VI) và 3 nhiệm kỳ làm đại biểu Quốc hội (khóa VI, VII, VIII).
Với những đóng góp trong công tác quân sự và chính trị, ông được trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Giải phóng, Huân chương Chiến thắng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.
Thượng tướng Vũ Lập qua đời năm 1987, hưởng thọ 63 tuổi. Tên ông được đặt cho đường phố tại Đà Nẵng và Nha Trang (Khánh Hòa) như một sự ghi nhận những đóng góp của ông đối với đất nước và tình đoàn kết chiến đấu giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào.
Bài viết tham khảo thông tin tại:
Vũ Lập - vị tướng nhân duyên sâu nặng tình nghĩa Việt - Lào - Báo Cao Bằng
Hà Nội gắn biển đường phố mang tên thượng tướng Vũ Lập - Thanh niên.