Vị hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau 1.000 năm Bắc thuộc, xây dựng kinh đô ở Hoa Lư
Đây là người dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế, đưa Đại Cồ Việt sánh ngang với phương Bắc.
Đinh Bộ Lĩnh (SN 924) là một trong những nhân vật tiêu biểu của lịch sử Việt Nam. Ông sinh ra tại thôn Kim Lự, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng, nay thuộc Gia Viễn, Ninh Bình. Đinh Bộ Lĩnh là con trai của Đinh Công Trứ - vị tướng của Dương Đình Nghệ, từng giữ chức Thứ sử Hoan Châu (Nghệ An). Mồ côi cha từ sớm, ông theo mẹ vào sống gần khu vực đền thờ sơn thần. Từ nhỏ, khi chơi cùng bạn bè đồng trang lứa, Đinh Bộ Lĩnh đã sớm bộc lộ tư chất thông minh, hơn người. Bạn bè trong vùng đều rất nể phục.
Năm 944, khi Đinh Bộ Lĩnh tròn 20 tuổi, Ngô Quyền qua đời. Không lâu sau đó, Dương Tam Kha chiếm ngôi, xưng vương. Con trai của Ngô Quyền chạy về Nam Sách (Hải Dương), dẫn đến cuộc tranh chấp quyền lực giữa hoàng tộc và ngoại tộc. Kết quả, hai anh em nhà Ngô giành lại quyền lực nhưng việc cùng cai trị khiến triều đình rơi vào tình trạng rối ren.
Trước bối cảnh đó, Đinh Bộ Lĩnh sớm tập hợp lực lượng, chọn Hoa Lư làm căn cứ ban đầu, nuôi chí thống nhất đất nước. Sau nhiều năm gây dựng, thế lực của ông ngày càng lớn mạnh, quy tụ nhiều tướng lĩnh tài năng và nhận được sự ủng hộ của người dân ở các vùng như Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa ngày nay.
Năm 954, Ngô Xương Ngập qua đời vì bệnh. Hơn 10 năm sau, Ngô Xương Văn tử trận khi đi dẹp loạn. Khi chính quyền trung ương không còn, đất nước rơi vào tình trạng chia cắt với sự nổi lên của 12 sứ quân, trong khi phương Bắc cũng bắt đầu dòm ngó, tìm cách tái lập ách đô hộ.
Không đứng nhìn đất nước rơi vào hỗn loạn, Đinh Bộ Lĩnh đứng lên dẹp loạn. Đến năm Mậu Thìn 968, ông lên ngôi hoàng đế, tức Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt. Cả nước được chia thành 10 đạo và giao cho những người có năng lực, đức độ cai quản.
Ông cũng chọn Hoa Lư làm kinh đô. Đây không chỉ là trung tâm chính trị đầu tiên của nhà nước phong kiến tập quyền Việt Nam mà còn là cái nôi của nhiều giá trị văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc. Những loại hình nghệ thuật truyền thống như chèo được nuôi dưỡng và phát triển, dần trở thành nét đặc trưng của người Việt.
Đinh Tiên Hoàng cho xây dựng kinh đô Hoa Lư kiên cố với thành lũy, hào sâu, cung điện và thiết lập triều nghi. Đến năm 970, ông đặt niên hiệu Thái Bình. Những việc làm này nhằm khẳng định với phương Bắc về một quốc gia độc lập, có chủ quyền, có quân đội riêng và không còn phụ thuộc.
Sau khi lên ngôi, ông thực hiện nhiều chính sách tiến bộ như cho đúc đồng tiền “Thái Bình hưng bảo”, góp phần khẳng định nền độc lập, tự chủ trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao. Dưới thời Đại Cồ Việt, triều đình cũng lần đầu thiết lập quan hệ bang giao chính thức với các triều đại Trung Hoa, với cách ứng xử linh hoạt, vừa mềm dẻo vừa kiên quyết để giữ vững chủ quyền.
Bên cạnh đó, Đinh Bộ Lĩnh còn đặt nền móng cho chính sách “ngụ binh ư nông”, cho phép binh lính luân phiên về quê sản xuất. Nhờ vậy, nhà nước vừa duy trì được lực lượng quân sự đủ mạnh để bảo vệ đất nước, vừa không làm gián đoạn hoạt động nông nghiệp. Chính sách này thể hiện tư duy quản lý linh hoạt, tiến bộ, góp phần ổn định xã hội và củng cố sức mạnh quốc gia trong buổi đầu độc lập.
Năm 979, Đinh Tiên Hoàng qua đời, hưởng thọ 65 tuổi, sau khoảng 12 năm trị vì. Ông được an táng tại Sơn Lăng trên núi Mã Yên, thuộc vùng Hoa Lư (nay thuộc Trường Yên, Ninh Bình).
Đến nay, tên tuổi của ông vẫn được ghi nhớ rộng rãi khi nhiều tuyến đường, trường học trên khắp Việt Nam mang tên Đinh Tiên Hoàng. Bên cạnh đó, các đền thờ và tượng đài cũng được xây dựng ở nhiều nơi nhằm tưởng niệm và tôn vinh vị hoàng đế đầu tiên của nhà nước Đại Cồ Việt.
Theo thống kê, trên địa bàn Ninh Bình có khoảng 12 di tích thờ Đinh Tiên Hoàng. Trong đó, tiêu biểu nhất là đền Đinh (đền Văn Bòng), nằm tại thôn Văn Bòng, xã Đại Hoàng cũ. Đây là nơi gắn liền với nhiều dấu tích về thời niên thiếu của vị hoàng đế đầu tiên sau thời kỳ Bắc thuộc.
Ngôi đền tọa lạc trên khuôn viên rộng gần 3.000m2, quay hướng Tây, được bao quanh bởi tường thấp. Từ cổng chính bước vào là hồ bán nguyệt, tiếp đến là bức bình phong chạm nổi hình hổ xuống núi. Qua Tắc môn với các cột trụ đắp rồng phượng uy nghi là không gian sân đền có sập đá tượng trưng cho uy quyền của nhà vua. Hai bên sân có các miếu thờ công chúa và Tam Quận Công, nhà Giải vũ tạo nên tổng thể kiến trúc hài hòa.
Đền được xây dựng theo kiểu “tiền nhất hậu đinh”, gồm ba tòa chính: Tiền bái, Trung đường và Hậu cung. Tòa Tiền bái có kết cấu gỗ lim theo lối chồng rường, kẻ bẩy, chạm khắc tinh xảo với hình rồng, phượng và hoa văn truyền thống. Toàn bộ công trình mang đậm phong cách kiến trúc cổ, bền vững và trang nghiêm.
Điểm nhấn của đền là tượng vua Đinh Tiên Hoàng cao khoảng 2m, được tạc từ gỗ mít, đặt trên long ngai sơn son thếp vàng. Tượng thể hiện nhà vua trong tư thế thiết triều, đầu đội mũ bình thiên, mặc long bào, thể hiện rõ uy nghi và quyền lực. Các chi tiết chạm khắc trên long ngai và nội thất mang dấu ấn nghệ thuật thời Nguyễn.
Năm 1993, đền được công nhận là Di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia. Hằng năm, vào dịp lễ hội Hoa Lư (mùng 9-10 tháng 3 Âm lịch), người dân địa phương cùng các di tích liên quan tổ chức rước kiệu, dâng hương tưởng niệm. Đây không chỉ là hoạt động tín ngưỡng mà còn thể hiện sự tri ân đối với vị vua đã đặt nền móng cho nhà nước phong kiến tập quyền đầu tiên của Việt Nam, mở ra thời kỳ độc lập lâu dài cho dân tộc.
Bài có tham khảo thông tin tại:
Hoàng đế Đinh Tiên Hoàng và Nhà nước Đại Cồ Việt - Dấu mốc lịch sử quan trọng của một quốc gia độc lập - Vnu.edu
Đinh Tiên Hoàng đế người dựng nước Đại Cồ Việt - VOV2.