Khát vọng "hóa xanh" nền kinh tế và niềm tin của người làm khoa học trước thềm Xuân mới

Tiêu điểm 04/02/2026 09:36

Trong không khí hân hoan chào đón năm mới Bính Ngọ 2026, GS.TS Trần Thị Thu Hà - Viện trưởng Viện Lâm nghiệp và Phát triển bền vững, Phó Chủ tịch Hội Khoa học các sản phẩm thiên nhiên Việt Nam (VANPS) đã có những chia sẻ đầy tâm huyết về hành trình đánh thức tiềm năng của rừng và các sản phẩm thiên nhiên Việt. Với bà, mùa xuân không chỉ là sự khởi đầu của đất trời, mà còn là thời điểm để gieo những "mầm xanh" hy vọng cho một nền nông - lâm nghiệp bền vững, vươn tầm quốc tế.

gs-tran-thi-thu-ha_1770103154.jpg
 GS.TS Trần Thị Thu Hà - Viện trưởng Viện Lâm nghiệp và Phát triển bền vững, Phó Chủ tịch Hội Khoa học các sản phẩm thiên nhiên Việt Nam (VANPS)

Hóa giải nghịch lý "giàu tài nguyên, nghèo giá trị"

Việt Nam là một trong 16 quốc gia đa dạng sinh học hàng đầu, với hơn 5.000 loài dược liệu, nhưng kim ngạch xuất khẩu lại quá khiêm tốn. Theo bà, làm thế nào để ngành dược liệu vượt qua điểm nghẽn về chuẩn hóa chất lượng (GACP/GMP), biến tiềm năng tài nguyên thành giá trị kinh tế thực sự và bền vững trên thị trường quốc tế?

GS.TS Trần Thị Thu Hà: Việt Nam đúng là một trong những quốc gia có mức độ đa dạng sinh học cao nhất thế giới, với hơn 5.000 loài dược liệu và trong đó nhiều loài quý hiếm có giá trị kinh tế cao. Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất khiến kim ngạch xuất khẩu lại quá khiêm tốn không nằm ở tài nguyên, mà nằm ở chuỗi giá trị và hệ thống chuẩn hóa chất lượng. Để biến tiềm năng sinh học thành giá trị kinh tế thực sự và bền vững, chúng ta cần tiếp cận theo ba trụ cột chiến lược phù hợp với Chiến lược quốc gia phát triển dược liệu đến năm 2030 để chuẩn hóa chuỗi giá trị và đi ra thị trường quốc tế.

Thứ nhất, chuẩn hóa sản phẩm dược liệu theo GACP-WHO gắn với truy xuất nguồn gốc. Ngành cần chuyển mạnh từ mô hình "khai thác và thu hái tự nhiên" sang "nuôi trồng – quản lý theo sinh cảnh", hình thành các vùng nguyên liệu tập trung, được mã hóa và kiểm soát chất lượng dược liệu ngay từ khâu giống, canh tác và thu hái.

Thứ hai, nâng cấp giá trị sản phẩm thông qua chế biến sâu đạt chuẩn GMP. Xuất khẩu dược liệu thô chỉ tạo ra giá trị thấp và rủi ro cao. Muốn tham gia các thị trường có tiêu chuẩn cao như EU, Nhật Bản hay Bắc Mỹ, dược liệu bắt buộc phải được chế biến, chuẩn hóa hoạt chất và kiểm soát an toàn sinh học. Đây là khâu quyết định để chuyển cây thuốc thành sản phẩm công nghiệp sinh học.

Thứ ba, tổ chức chuỗi liên kết dựa trên khoa học và vai trò kiến tạo của Nhà nước. Nông dân không thể tự gánh GACP, doanh nghiệp khó tự gánh GMP. Cần mô hình liên kết trong đó doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, nhà khoa học bảo chứng nhận chất lượng, và Nhà nước hỗ trợ thể chế và giảm rủi ro ban đầu – đúng tinh thần Nghị quyết 57 về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Tóm lại, Việt Nam không thiếu dược liệu, mà đang thiếu một chuỗi giá trị được chuẩn hóa và dẫn dắt bằng khoa học. Nếu tháo gỡ được điểm nghẽn này, dược liệu hoàn toàn có thể trở thành một trụ cột kinh tế sinh học, vừa nâng cao kim ngạch xuất khẩu, vừa góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế bền vững cho vùng miền núi.

Chuẩn hóa chuỗi giá trị và kiến tạo "niềm tin số"

Khi hệ thống kiểm nghiệm hiện nay có phần chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn nên niềm tin của người tiêu dùng còn khiêm tốn, khiến họ có xu hướng tìm đến hàng ngoại nhập. Để tháo gỡ điểm nghẽn này, bà nhận định vai trò của chuyển đổi số và các công nghệ như e-COA và Blockchain quan trọng đến mức nào trong việc xây dựng niềm tin và đưa dược liệu Việt Nam chiếm lĩnh thị trường nội địa?

GS.TS Trần Thị Thu Hà: Hạn chế trong kiểm nghiệm và truy xuất nguồn gốc hiện nay là một trong những rào cản chiến lược, phần nào làm suy giảm niềm tin của thị trường đối với dược liệu Việt Nam và hạn chế khả năng phát triển bền vững của ngành. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số cần được xác định là trụ cột cốt lõi trong chiến lược phát triển ngành dược liệu quốc gia, chứ không chỉ là giải pháp kỹ thuật đơn lẻ.

Việc ứng dụng các công nghệ như e-COA và Blockchain cho phép hình thành hệ thống dữ liệu chất lượng dược liệu thống nhất, minh bạch và có khả năng truy xuất xuyên suốt chuỗi giá trị – từ vùng nguyên liệu, sản xuất, kiểm nghiệm đến lưu thông thị trường. Điều này giúp chuyển mô hình quản lý từ "niềm tin chủ quan" sang niềm tin dựa trên dữ liệu khoa học có thể kiểm chứng.

1-4_1770172239.jpg
Việc ứng dụng công nghệ e-COA và Blockchain cho phép hình thành hệ thống dữ liệu chất lượng dược liệu thống nhất, minh bạch

Ở tầm chiến lược, e-COA và Blockchain không chỉ góp phần khôi phục niềm tin của người tiêu dùng trong nước, mà còn tạo điều kiện để chuẩn hóa thị trường nội địa, nâng cao năng lực giám sát của cơ quan quản lý và từng bước tiệm cận các yêu cầu của thị trường quốc tế. Tuy nhiên, để các công nghệ này phát huy hiệu quả, cần triển khai đồng bộ với việc chuẩn hóa hệ thống phòng kiểm nghiệm, hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu và truy xuất nguồn gốc, cũng như tăng cường vai trò dẫn dắt của Nhà nước trong thiết lập hạ tầng số dùng chung cho ngành dược liệu.

Tóm lại, chuyển đổi số – với e-COA và Blockchain làm hạt nhân – chính là nền tảng chiến lược để tái cấu trúc ngành dược liệu Việt Nam theo hướng minh bạch, chất lượng cao và lấy thị trường trong nước làm bệ đỡ cho phát triển dài hạn.

Đánh thức tiềm năng "vàng xanh" dưới tán rừng

Chính phủ đã mở hành lang pháp lý đột phá, như Nghị định 183/2025/NĐ-CP cho phép trồng dược liệu dưới tán rừng. Theo bà, ngành cần ưu tiên chuyển giao những công nghệ lõi nào (ví dụ: chiết xuất siêu tới hạn, công nghệ nano) và cần có thêm những cơ chế chính sách nào để thúc đẩy sản xuất quy mô lớn và tạo ra các sản phẩm dược liệu có giá trị gia tăng cao?

GS.TS Trần Thị Thu Hà: Việc Chính phủ ban hành Nghị định 183/2025/NĐ-CP cho phép trồng dược liệu dưới tán rừng không chỉ mở rộng không gian sản xuất, mà tạo ra một đột phá chiến lược trong phát triển ngành dược liệu theo hướng sinh thái – giá trị cao – bao trùm và bền vững. Thực tế cho thấy, phần lớn các loài dược liệu quý hiếm có giá trị kinh tế cao của Việt Nam gắn liền với các loài thảo dược vùng núi cao, sinh trưởng tự nhiên dưới tán rừng, nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống và gắn bó lâu đời với rừng. Việc cho phép trồng dược liệu dưới tán rừng vì vậy không chỉ phát huy lợi thế sinh thái và sinh cảnh đặc thù để tạo ra dược liệu có hàm lượng và phổ hoạt chất cao, mà còn tạo điều kiện để người dân vừa giữ rừng, vừa phát triển sinh kế bền vững thông qua canh tác dược liệu có kiểm soát.

Trên nền tảng đó, ngành cần ưu tiên chuyển giao và làm chủ các công nghệ lõi trong chế biến sâu, trước hết là các công nghệ chiết xuất và tinh chế hiện đại (như chiết xuất siêu tới hạn, chiết xuất chọn lọc, chuẩn hóa bán thành phẩm), cho phép loại bỏ tạp chất và độc tố, kiểm soát hoạt tính sinh học và chuẩn hóa chất lượng dược liệu. Tiếp theo là công nghệ sinh học và công nghệ nano, nhằm nâng cao sinh khả dụng, độ ổn định và hiệu quả của dược chất, qua đó chuyển dược liệu dưới tán rừng từ nguyên liệu thô thành các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Đặc biệt, các công nghệ này cần được triển khai đồng bộ với chính sách phát triển y dược cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại, qua đó đưa dược liệu Việt Nam trở thành nguồn nguyên liệu chuẩn hóa cho thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu và các sản phẩm thực phẩm chức năng. Khi dược liệu được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng, an toàn và hoạt tính, người dân và người bệnh có thể sử dụng thảo dược như một giải pháp chăm sóc sức khỏe chủ động, phòng bệnh hơn chữa bệnh, góp phần giảm gánh nặng cho hệ thống y tế.

2-5_1770172358.jpg
Chính phủ đã mở hành lang pháp lý đột phá, như Nghị định 183/2025/NĐ-CP cho phép trồng dược liệu dưới tán rừng

Điểm then chốt của mô hình này là sự tích hợp chặt chẽ giữa trồng trọt – chế biến – y dược, trong đó yêu cầu của khâu chế biến sâu và sử dụng trong y dược cổ truyền phải được "thiết kế ngược" ngay từ khâu chọn giống, tổ chức sinh cảnh, canh tác và thu hái dưới tán rừng. Về cơ chế chính sách, cần có các chính sách đặc thù cho dược liệu dưới tán rừng, bao gồm: ưu đãi đầu tư cho hạ tầng chế biến sâu gắn với vùng rừng; cơ chế liên kết công – tư giữa doanh nghiệp, viện nghiên cứu, cơ sở y dược cổ truyền và cộng đồng/chủ rừng; cùng các chính sách tín dụng xanh, ưu đãi thuế, chi trả dịch vụ môi trường rừng và đặt hàng nghiên cứu nhằm giảm rủi ro cho doanh nghiệp và bảo đảm lợi ích công bằng cho người dân.

Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường giữ vai trò chủ trì quy hoạch và quản lý vùng trồng dược liệu dưới tán rừng gắn với bảo vệ và phát triển rừng; Bộ Y tế định hướng phát triển y dược cổ truyền, tiêu chuẩn chất lượng, an toàn và lộ trình thương mại hóa thuốc dược liệu và thực phẩm chức năng; Bộ Khoa học và Công nghệ dẫn dắt nghiên cứu, chuyển giao và làm chủ các công nghệ lõi. Sự phối hợp đồng bộ này sẽ biến trồng dược liệu dưới tán rừng thành một mô hình phát triển kinh tế rừng hiện đại, vừa nâng cao giá trị ngành dược liệu, vừa góp phần chăm sóc sức khỏe cộng đồng và tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số.

Thưa GS.TS Trần Thị Thu Hà, khoảng cách từ phòng thí nghiệm ra sản xuất quy mô lớn vẫn là thách thức của nhiều doanh nghiệp. Vậy theo bà, mô hình liên kết "Ba nhà" cần đổi mới thực chất như thế nào để không chỉ thương mại hóa công nghệ thành công, mà còn giúp người dân chuyển đổi từ cây lâm nghiệp giá trị thấp sang dược liệu quý, đạt được mục tiêu "giá trị kép": vừa phát triển kinh tế, vừa bảo vệ rừng bền vững?

4-3_1770172449.jpg
Khoảng cách từ phòng thí nghiệm ra sản xuất quy mô lớn là thách thức của nhiều doanh nghiệp

GS.TS Trần Thị Thu Hà: Để giải quyết thách thức trong việc đưa kết quả từ phòng thí nghiệm ra quy mô sản xuất công nghiệp (scaling-up), chúng ta cần vận hành thực chất mô hình hợp tác Triple Helix (Ba nhà). Trong đó phân vai rõ ràng: Nhà nước tạo cơ chế, chính sách; Viện, trường cung cấp nghiên cứu, phát minh; và Doanh nghiệp đóng vai trò đầu tư sản xuất và thương mại hóa.

Trọng tâm của mối liên kết này là hỗ trợ nâng cao mức độ sẵn sàng công nghệ (TRL) từ cấp độ nghiên cứu lên cấp độ sản xuất công nghiệp, đồng thời tạo cơ chế thử nghiệm (Sandbox) cho các công nghệ tiên tiến.

Khi công nghệ lõi được chuyển giao thành công và vận hành dưới hành lang pháp lý như Nghị định 183/2025/NĐ-CP, chúng ta sẽ giúp người dân thay thế được việc trồng keo hiệu quả thấp bằng các loại dược liệu quý dưới tán rừng. Đây chính là lời giải cho bài toán "giá trị kép": vừa tạo sinh kế làm giàu, phát triển kinh tế, vừa bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu bền vững.

 

Văn Tuệ - Anh Minh