Mở đường cho hàng Việt chinh phục thị trường Halal
Thị trường Halal toàn cầu đang mở rộng mạnh mẽ sang nhiều lĩnh vực ngoài thực phẩm, mở ra dư địa lớn cho nông sản và hàng hóa Việt Nam xuất khẩu, đòi hỏi doanh nghiệp phải chủ động nâng cao năng lực cung ứng và chuẩn hóa toàn diện.
Gỡ nút thắt từ tiêu chuẩn Halal
Tại Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với Hệ thống Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài tháng 9/2026, bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến và Trải nghiệm HalalViet cho biết, xuất khẩu hàng Halal của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu là nông sản và thủy sản thô, trong khi các sản phẩm chế biến sâu đáp ứng tiêu chuẩn riêng của từng thị trường còn khá hạn chế.
Sự khác biệt này xuất phát từ chính đặc điểm của sản phẩm chế biến. Nếu nông sản có nguồn gốc tự nhiên thường thuận lợi hơn trong việc đáp ứng những yêu cầu cơ bản của Halal, sản phẩm chế biến sâu phải kiểm soát nhiều hơn về thành phần, nguyên liệu và quy trình sản xuất. “Điều chúng ta mong muốn là làm sao nâng cao năng lực cạnh tranh cho tất cả sản phẩm chế biến sâu và nhiều sản phẩm khác từ nguồn tài nguyên của Việt Nam để gia nhập thị trường xuất khẩu”, bà Bá Thị Nguyệt Thu chia sẻ.
Theo bà Bá Thị Nguyệt Thu, trong khoảng 2 năm trở lại đây, sự quan tâm của doanh nghiệp đối với thị trường Halal và việc chuẩn hóa sản phẩm đã tăng lên. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp thực sự có khả năng cung ứng sản phẩm Halal vẫn chưa phản ánh đầy đủ qua thống kê, do có doanh nghiệp chỉ sản xuất theo đơn hàng riêng, phục vụ một khách hàng hoặc một thị trường cụ thể. Qua quá trình trực tiếp kết nối với khách hàng nước ngoài, bà Thu cho biết doanh nghiệp Việt Nam còn gặp khó trong việc tìm kiếm những sản phẩm chế biến sâu phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng thị trường. Nhu cầu có nhưng khả năng tập hợp nguồn cung đạt chuẩn chưa tương xứng.
Ở góc độ tiêu chuẩn và năng lực sản xuất, ông Lê Anh Ngọc, Trưởng phòng Chất lượng và đánh giá sự phù hợp, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhìn nhận Việt Nam có nhiều lợi thế về nông, lâm, thủy sản, vị trí địa lý thuận lợi và đã xây dựng được hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm đáp ứng yêu cầu của nhiều thị trường lớn. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển sản phẩm Halal.
Song lợi thế về nguyên liệu chưa đồng nghĩa với việc sản phẩm có thể đáp ứng ngay yêu cầu của mọi thị trường Halal. Một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận Halal chưa thống nhất trên toàn cầu. Theo ông Ngọc, mỗi thị trường có thể đặt ra những yêu cầu riêng đối với sản phẩm cũng như tổ chức chứng nhận. “Chúng ta có rất nhiều nước, mỗi nước lại có các chuẩn khác nhau. Chứng nhận của Indonesia chưa chắc khi xuất khẩu sang Malaysia đã được chấp nhận; được tiêu chuẩn Malaysia chưa chắc xuất khẩu sang GCC; được GCC rồi chưa chắc xuất khẩu được sang UAE”, ông Lê Anh Ngọc phân tích.
Sự khác biệt về tiêu chuẩn này khiến doanh nghiệp phải xác định rõ thị trường mục tiêu ngay từ đầu để lựa chọn hệ thống chứng nhận phù hợp. Nếu doanh nghiệp muốn cùng một sản phẩm tiếp cận nhiều thị trường, chi phí cùng yêu cầu tuân thủ có thể tăng lên đáng kể. Không chỉ yêu cầu đối với sản phẩm, ông Ngọc cho hay có thị trường còn đặt điều kiện đối với tổ chức chứng nhận của Việt Nam phải có đại diện tại nước sở tại, tạo thêm áp lực lớn về chi phí duy trì đại diện, đánh giá và duy trì chứng nhận đối với doanh nghiệp và tổ chức trong nước.
Mở rộng liên kết, tăng sức xuất khẩu
Từ những thực tế trên, ông Lê Anh Ngọc cho rằng việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, thúc đẩy công nhận lẫn nhau giữa các hệ thống chứng nhận là một trong những nhiệm vụ quan trọng để giảm chi phí và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Về trách nhiệm triển khai, ông Ngọc cho rằng trách nhiệm trước hết vẫn thuộc về doanh nghiệp trong việc lựa chọn thị trường, nắm rõ yêu cầu và tổ chức sản xuất phù hợp, trong khi các cơ quan quản lý và đơn vị hỗ trợ có vai trò hướng dẫn, cung cấp thông tin, kết nối và hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực.
Ở góc độ doanh nghiệp, bà Bá Thị Nguyệt Thu cho rằng 3 vấn đề nổi bật hiện nay gồm tiêu chuẩn và chứng nhận, chuỗi cung ứng cùng hạ tầng logistics Halal và thiếu thông tin thị trường, trong đó thông tin về từng thị trường có ý nghĩa trực tiếp đối với quyết định đầu tư để doanh nghiệp biết thị trường nào có nhu cầu, yêu cầu chứng nhận ra sao, sản phẩm nào có khả năng tiếp cận và những rủi ro nào cần chuẩn bị trước.
Bá Thị Nguyệt Thu cũng cho rằng phát triển Halal không chỉ phục vụ xuất khẩu. Nhu cầu trong nước đang xuất hiện rõ hơn từ hệ thống khách sạn, nhà hàng và khu du lịch phục vụ khách quốc tế theo đạo Hồi. Việc hình thành nguồn cung đạt chuẩn tại Việt Nam vì thế có thể vừa phục vụ thị trường nội địa, vừa tạo nền tảng cho xuất khẩu. “Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc liên kết với những hệ thống sản phẩm có sẵn hoàn toàn có thể gia nhập thị trường này. Chúng ta cùng nhau xây dựng một hệ sinh thái thì chắc chắn sẽ thay đổi được rất nhiều”, bà Bá Thị Nguyệt Thu đề xuất.
Ở góc độ cơ quan quản lý, ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương), trong phát biểu chỉ đạo và định hướng, đã nhấn mạnh quy mô khi thế giới hiện có khoảng 2 tỷ người Hồi giáo sinh sống tại 112 quốc gia với 57 thành viên Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, chiếm khoảng 25% dân số thế giới và tập trung đông tại châu Á, Trung Đông. Theo ông Vũ Bá Phú, thị trường Halal toàn cầu đang tăng trưởng mạnh với quy mô vô cùng lớn, mở rộng từ thực phẩm sang mỹ phẩm, du lịch, tài chính và logistics, đồng thời xu hướng tiêu dùng này ngày càng nhận được sự quan tâm của người tiêu dùng ngoài cộng đồng Hồi giáo do gắn với yêu cầu minh bạch và an toàn trong chuỗi cung ứng.
Xu hướng này cho thấy dư địa của thị trường Halal không chỉ nằm trong cộng đồng Hồi giáo mà còn có khả năng mở rộng sang các nhóm người tiêu dùng khác, do gắn với các yêu cầu về tính minh bạch và an toàn trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động, theo lãnh đạo Cục Xúc tiến thương mại, thị trường Halal có thể tạo thêm động lực tăng trưởng mới. Việt Nam hiện có thế mạnh xuất khẩu ở nhiều nhóm sản phẩm, trong đó có nông sản, thực phẩm thông thường. Việc phát triển ngành Halal sẽ mở thêm hướng đi cho hoạt động xuất khẩu.
Đáng chú ý, mới đây, Chính phủ đã quy định 3 nhóm chính sách trọng tâm nhằm hỗ trợ phát triển thị trường Halal. Các chính sách này từng bước hình thành nền tảng pháp lý để xây dựng chiến lược phát triển ngành Halal của Việt Nam, trong bối cảnh lĩnh vực này đang nhận được sự quan tâm. “Đây cũng là lần thứ hai Bộ Công Thương tổ chức phiên giao ban xúc tiến thương mại với chủ đề Halal. Năm ngoái, cũng vào khoảng thời gian này, Bộ Công Thương đã tổ chức cuộc giao ban với chủ đề Halal, qua đó bước đầu trao đổi về tiềm năng và định hướng phát triển thị trường này”, ông Vũ Bá Phú cho hay.






