Dược sỹ Nguyễn Thanh Tuyền và hành trình đưa khoa học vào đồng ruộng, tạo sinh kế bền vững cho nông dân

Sản phẩm • 04/10/2026 14:15

Dược sỹ Nguyễn Thanh Tuyền, Phó Giám đốc phụ trách Hợp tác xã Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Sóc Sơn đã được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tôn vinh “Nhà khoa học của nhà nông” lần thứ VII, năm 2026. Bà được biết đến không chỉ bởi những công trình nghiên cứu về cây dược liệu, mà còn ở hành trình đưa khoa học vào đồng ruộng, xây dựng vùng nguyên liệu hữu cơ, bảo tồn nguồn gen quý và tạo sinh kế cho người dân vùng gò đồi.

Từ những cây thuốc quý đến vùng dược liệu hữu cơ

Phía trên vẫn là rừng phòng hộ, dưới những tán cây là vùng dược liệu rộng hàng chục 30ha được chăm sóc theo hướng hữu cơ. Đây là vùng Trà hoa vàng tại xã Trung Giã mà dược sĩ Nguyễn Thanh Tuyền đã dành nhiều năm gây dựng, nghiên cứu và phát triển. Thời điểm này, cây trà đang bắt đầu ra nụ, phải mất khoảng 5 đến 6 tháng, nụ mới nở thành hoa và mùa thu hoạch trà hoa vàng sẽ kéo dài khoảng một tháng.

Theo giới thiệu của bà Nguyễn Thanh Tuyền, những cây mới bắt đầu cho thu hoạch chỉ có thể cho vài lạng, 2-3 lạng hoặc khoảng nửa cân nụ mỗi vụ. Những cây được chăm sóc 10-15 năm có thể cho 1-2kg. Cá biệt, có cây lâu năm cho tới 8-10kg nụ trà, mang lại nguồn thu rất lớn.

Là dược sĩ, đồng thời trực tiếp quản lý, điều hành hợp tác xã, bà Nguyễn Thanh Tuyền xác định, muốn phát triển dược liệu lâu dài phải bắt đầu từ vùng nguyên liệu. Bà cùng các thành viên hợp tác xã từng bước đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng khu bảo tồn, vùng trồng, khu sản xuất, chế biến và phát triển sản phẩm.

1_1791079564.jpg
Bà Nguyễn Thanh Tuyền, Phó Giám đốc phụ trách Hợp tác xã Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Sóc Sơn giới thiệu về vùng trồng trà hoa vàng tại Trung Giã. Ảnh: Mai Nguyễn

Đến nay, diện tích gieo trồng của hợp tác xã là hơn 30ha, trồng và bảo tồn gần 100 loài dược liệu quý của Việt Nam như: Thất diệp nhất chi hoa, lan kim tuyến, sâm bố chính, cát sâm, hà thủ ô đỏ, sa nhân tím, bách bộ, bán chi liên, khôi tía, râu mèo, thìa canh, ngưu bàng... Trong đó, trà hoa vàng là cây chủ lực với diện tích khoảng 13ha và hơn 26 chủng loại.

Vùng sản xuất trà hoa vàng đã được chứng nhận hữu cơ Nhật Bản (JAS). Theo bà Tuyền, lựa chọn tiêu chuẩn này trước hết xuất phát từ định hướng thị trường, bởi Nhật Bản là một trong những thị trường mà hợp tác xã hướng tới. Mặt khác, tiêu chuẩn hữu cơ Nhật Bản có yêu cầu cao, quy trình kiểm soát chặt chẽ, qua đó tạo động lực để người sản xuất nâng cao chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu.

Quá trình chứng nhận cũng được kiểm soát nghiêm ngặt. Trung tâm Quacert thường xuyên kiểm tra vùng sản xuất; các chuyên gia Nhật Bản trực tiếp sang đánh giá. Nguồn nước, vật tư đầu vào, quá trình chăm sóc, thu hái và nhiều khâu trong sản xuất đều phải đáp ứng yêu cầu. “Việc đạt tiêu chuẩn hữu cơ Nhật Bản không chỉ là một chứng nhận về quy trình mà còn góp phần khẳng định chất lượng sản phẩm, tạo điều kiện để dược liệu Sóc Sơn tiếp cận các thị trường xuất khẩu”- bà Tuyền cho biết.

Để có được vùng nguyên liệu như hôm nay, bà Tuyền đã kiên trì thay đổi phương thức sản xuất. Phân hữu cơ, phân vi sinh, phân trùn quế được sử dụng thay cho phân hóa học; các biện pháp phòng trừ sinh học được áp dụng nhằm hạn chế thuốc bảo vệ thực vật. Nguồn nước tưới được kiểm soát. “Đã là dược liệu thì phải sạch mới có tác dụng chữa bệnh” là nguyên tắc được bà kiên trì theo đuổi.

Nhưng để người dân thay đổi thói quen canh tác không phải chuyện một sớm một chiều. Bà cùng các thành viên hợp tác xã trực tiếp tới vườn, hướng dẫn từ khâu làm đất, trồng, chăm sóc đến thu hái theo hướng kiên trì “cầm tay chỉ việc” cho người dân. Từ cách làm đó, vùng đất từng chủ yếu là những khu vườn tạp, trồng chè, sắn đã dần hình thành vùng nguyên liệu tập trung, được chăm sóc bài bản. Việc phát triển dược liệu cũng góp phần giữ màu xanh cho vùng đồi, bảo vệ cảnh quan và hệ sinh thái.

Đưa kết quả nghiên cứu trở lại đồng ruộng   

Điểm nổi bật trong hành trình của bà Nguyễn Thanh Tuyền là nghiên cứu khoa học luôn gắn với thực tiễn sản xuất.

Từ năm 2019 đến 2024, bằng nguồn kinh phí tự có của hợp tác xã, bà làm chủ nhiệm một dự án và hai đề tài nghiên cứu về trà hoa vàng Hakodae (Camellia hakodae), từ nhân giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hái đến nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của hoa, lá. Công trình được triển khai theo hướng đồng bộ, từ thu thập, chọn lọc, đánh giá đặc điểm nông sinh học, xây dựng quy trình nhân giống bằng hạt, quy trình trồng và chăm sóc hữu cơ đến xây dựng vườn giống, vườn nhân giống và mô hình sản xuất.

Kết quả nghiên cứu về hoa trà hoa vàng Hakodae đã phân lập và xác định cấu trúc 32 hợp chất, trong đó có 4 hợp chất mới. Một phương pháp phân lập hợp chất từ hoa trà hoa vàng Hakodae đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp bằng độc quyền sáng chế năm 2024. Một hợp chất và phương pháp chiết hợp chất từ lá cây cũng được cấp bằng độc quyền sáng chế. Các kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế. Đây là cơ sở để sản phẩm trà hoa vàng của hợp tác xã từng bước tiếp cận các thị trường có yêu cầu cao như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đức.

2_1791079762.jpg
Bà Nguyễn Thanh Tuyền và chị Nguyễn Bình Nguyên bên khu vườn trà hoa vàng.Ảnh: Mai Nguyễn

Công trình “Nghiên cứu bảo tồn và phát huy giá trị sinh học, dược học của trà hoa vàng Hakoda tại Hà Nội” do Hợp tác xã Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Sóc Sơn chủ trì, bà Nguyễn Thanh Tuyền làm chủ nhiệm, được Hội đồng khoa học do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội thành lập đề cử tham gia Giải thưởng sáng tạo khoa học và công nghệ Việt Nam (VIFOTEC).

Không chỉ với trà hoa vàng, bà Tuyền còn chủ trì nghiên cứu phát triển xì dầu 2S đỗ đen ngưu bàng - sản phẩm kết hợp đỗ đen, ngưu bàng, đường thốt nốt và trà hoa vàng. Sản phẩm đã được cấp chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm, đạt chứng nhận HACCP và đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Công trình nghiên cứu này đạt giải Ba Hội thi Sáng tạo kỹ thuật thành phố Hà Nội năm 2025 và giải Ba Giải thưởng sáng tạo khoa học và công nghệ Việt Nam (VIFOTEC) trong lĩnh vực sinh học phục vụ đời sống.

Điều đáng nói là sau mỗi công trình nghiên cứu, bà Nguyễn Thanh Tuyền đều tìm cách đưa kết quả trở lại sản xuất. Khoa học vì thế không đứng tách khỏi đồng ruộng mà trở thành công cụ để nâng giá trị cây trồng, hoàn thiện quy trình sản xuất và mở rộng thị trường.

Khi vùng dược liệu trở thành sinh kế cho người dân   

Hiệu quả của cách làm ấy được nhìn thấy rõ qua những hộ dân đã tham gia hợp tác với hợp tác xã.

Gia đình bà Đỗ Thị Hòa ở thôn Bắc Sơn là một trong những hộ đầu tiên cho Hợp tác xã thuê đất để phát triển vùng sản xuất. Trước đây, phần lớn diện tích đất của gia đình là vườn tạp, trồng chè và sắn. Sắn chủ yếu phục vụ chăn nuôi; chè thu hái rồi bán theo phương thức truyền thống nên hiệu quả kinh tế không cao. Khoảng năm 2015, gia đình bắt đầu cho thuê đất. Đến nay, diện tích đất gia đình cho thuê khoảng 6ha. Bà Hòa làm công nhân cho Hợp tác xã được trả lương và đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ.

Con gái bà Hòa là chị Trịnh Bình Nguyên (sinh năm 2002), sau khi tốt nghiệp Học viện Nông nghiệp Việt Nam, chuyên ngành Nông học, đã trở về làm việc tại hợp tác xã. Công việc của Nguyên là cập nhật sổ sách, giấy tờ, thực hiện các thủ tục liên quan và phối hợp theo dõi tình trạng cây trồng tại các khu vườn. Chị Nguyên được tham gia bảo hiểm xã hội, thu nhập khoảng 8 triệu đồng/tháng. “Bây giờ kinh tế gia đình khá hơn trước rất nhiều”, chị Nguyên chia sẻ.

Theo chị Nguyên, nếu trước đây gia đình phải tự canh tác vườn tạp, hiệu quả không cao thì nay đất vẫn được sử dụng hiệu quả, các thành viên trong gia đình có thêm việc làm và thu nhập ổn định. Những khu vườn cũng được chăm sóc bài bản, sạch đẹp hơn.

Cách đó không xa, gia đình chị Nguyễn Thị Hiền cũng ở thôn Bắc Sơn cũng cho Hợp tác xã bảo tồn và phát triển dược liệu Sóc Sơn thuê đất và trực tiếp làm việc tại đây. Gia đình nhỏ của chị Hiền cho thuê khoảng 3ha.

Trước đây, diện tích đất chủ yếu trồng chè theo phương thức truyền thống. Người dân phải tự chăm sóc, thu hái, chế biến rồi đưa sản phẩm ra thị trường. Chè chủ yếu bán dưới dạng thông thường, chưa xây dựng được thương hiệu, bao bì, tem nhãn nên giá trị gia tăng không cao. “Nếu chỉ tính riêng tiền cho thuê đất thì thu nhập hiện nay cao hơn khoảng từ 2 đến 3 lần so với trước đây trồng chè”, chị Hiền cho biết.

Ngoài nguồn thu từ đất, chị Hiền còn làm quản lý công nhân và theo dõi tình trạng vườn thuộc khu 3, với thu nhập hơn 7 triệu đồng/tháng, được đóng bảo hiểm xã hội cùng các chế độ phúc lợi vào dịp lễ, Tết và ngày nghỉ theo quy định.

1_1791079889.jpg
Hoa trà hoa vàng. Ảnh: Mai Nguyễn

Theo Phó Giám đốc Hợp tác xã bảo tồn và phát triển dược liệu Sóc Sơn Nguyễn Thanh Tuyền, mỗi năm, hợp tác xã tạo việc làm cho khoảng 15 lao động chính thức và 20-30 lao động thời vụ tại địa phương. Người lao động chính thức được tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Các hộ liên kết được hỗ trợ giống, vật tư, quy trình kỹ thuật và thu mua sản phẩm đạt tiêu chuẩn.

Không dừng lại ở vùng sản xuất của Hợp tác xã, từ năm 2018, bà Nguyễn Thanh Tuyền với vai trò Phó Giám đốc phụ trách Hợp tác xã còn liên kết với Hợp tác xã dược liệu Hòa Phát xây dựng vùng trồng râu mèo, kim ngân hoa, cà gai leo, thìa canh, sen, cỏ ngọt, cúc chi, ngưu bàng, đỗ đen xanh lòng... theo hướng hữu cơ.

Từ năm 2023 đến 2025, mô hình liên kết trồng ngưu bàng trên diện tích 2,5ha tại xã Đa Phúc cho năng suất củ tươi khoảng từ 7 đến 8 tấn/ha. Năm 2025, hợp tác xã tiếp tục chuyển giao kỹ thuật, mở rộng vùng trồng trà hoa vàng Hakodae và khôi tía với Hợp tác xã Chân Minh ở xã Ba Vì.

Với những đóng góp trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật, bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu, dược sĩ Nguyễn Thanh Tuyền vừa được Trung ương Hội Nông dân Việt Nam xét chọn, tôn vinh “Nhà khoa học của nhà nông” lần thứ VII, năm 2026.

Nguồn: Theo Báo Hà Nội mới
Tin đáng đọc