Hàng dự trữ quốc gia được trao cơ chế linh hoạt để ứng phó biến động thị trường

Diễn biến - Dự báo 08/09/2026 11:22

Quy định mới rút ngắn thời gian xử lý việc nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia trong các tình huống cấp bách, đồng thời cho phép bổ sung hoặc đưa hàng ra thị trường khi giá cả, nguồn cung biến động bất thường.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 345/2026/NĐ-CP ngày 4/9/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Dự trữ quốc gia về dự trữ quốc gia và quản lý, sử dụng hàng dự trữ quốc gia. Một trong những điểm đáng chú ý là cơ chế nhập, xuất hàng được thiết kế linh hoạt hơn, qua đó nâng cao khả năng phản ứng của Nhà nước trước thiên tai, dịch bệnh, tình huống đột xuất cũng như những biến động lớn của thị trường.

Nghị định gồm 3 chương, 34 điều, quy định từ danh mục, kế hoạch dự trữ quốc gia đến việc nhập, xuất, bảo quản, sử dụng, mua bán hàng dự trữ; nguồn hình thành và ngân sách nhà nước dành cho dự trữ; quản lý kho dự trữ, chuyển đổi số, ứng dụng khoa học công nghệ và công tác kiểm tra.

Theo quy định mới, các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia tổ chức mua hàng, nhập kho theo kế hoạch dự trữ quốc gia được cấp có thẩm quyền phê duyệt hằng năm. Tuy nhiên, trong trường hợp thị trường xuất hiện những biến động bất thường, cơ chế bổ sung hàng có thể được kích hoạt ngoài kế hoạch. Bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực và UBND cấp tỉnh được đề nghị nhập hàng dự trữ quốc gia khi vật tư, thiết bị, hàng hóa thuộc danh mục dự trữ có biến động bất thường về giá hoặc nguồn cung.

yeu-cau-bao-quan-hang-du-tru-quoc-gia_1788792775.webp
Hàng dự trữ quốc gia được trao cơ chế linh hoạt để ứng phó biến động thị trường

Sau khi nhận được đề nghị, Bộ Tài chính có tối đa 5 ngày để lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia và các cơ quan liên quan. Các cơ quan được lấy ý kiến phải phản hồi trong thời hạn 3 ngày. Trên cơ sở các ý kiến nhận được, Bộ Tài chính có tối đa 5 ngày để tổng hợp và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.

Trong vòng tối đa 5 ngày kể từ khi nhận quyết định của Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành kế hoạch nhập bổ sung để các bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức thực hiện. Cách thiết kế này tạo thêm khả năng điều chỉnh quy mô hàng dự trữ theo diễn biến thực tế, thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào kế hoạch được xây dựng từ trước. Đây là yếu tố quan trọng trong bối cảnh giá hàng hóa và nguồn cung có thể thay đổi nhanh do thiên tai, dịch bệnh hoặc những cú sốc trên thị trường.

Một điểm đáng chú ý khác của Nghị định 345 là cơ chế xuất cấp hàng dự trữ quốc gia trong các tình huống đột xuất, cấp bách. Khi xảy ra thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, cứu đói vượt quá khả năng của chính quyền địa phương hoặc phát sinh yêu cầu cần giải quyết ngay liên quan đến nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và trật tự an toàn xã hội, các bộ, cơ quan ngang bộ và UBND cấp tỉnh có thể đề nghị xuất cấp hàng dự trữ quốc gia.

Trong thời hạn tối đa 3 ngày kể từ khi nhận đề nghị, Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia phải ban hành quyết định xuất cấp và giao nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện. Quyết định đồng thời được gửi Bộ Tài chính để quản lý, theo dõi.

Đặc biệt, với những tình huống đòi hỏi phải xử lý ngay, việc chỉ đạo xuất cấp có thể được thực hiện thông qua điện thoại trực tiếp, fax hoặc văn bản điện tử trong trường hợp chưa kịp ban hành quyết định chính thức. Quy định này nhằm giải quyết một trong những yêu cầu quan trọng nhất của hàng dự trữ quốc gia là bảo đảm yếu tố thời gian. Trong các tình huống thiên tai, dịch bệnh hay cứu trợ khẩn cấp, việc hàng hóa được đưa đến đúng địa điểm sớm có thể quyết định hiệu quả của hoạt động ứng phó.

Các đơn vị, tổ chức và doanh nghiệp quản lý, bảo quản hàng dự trữ quốc gia cũng được chủ động huy động hoặc thuê phương tiện vận chuyển để đưa hàng đến đúng địa điểm theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền. Sau khi hoàn thành việc xuất cấp, trong thời hạn 5 ngày, đơn vị quản lý, bảo quản phải hoàn thiện đầy đủ hồ sơ theo quy định.

Không chỉ phục vụ các tình huống cứu trợ, hàng dự trữ quốc gia còn được phép xuất khi giá cả hoặc nguồn cung hàng hóa thuộc danh mục dự trữ có biến động bất thường. Bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực và UBND cấp tỉnh có trách nhiệm gửi đề nghị xuất hàng tới Bộ Tài chính và chịu trách nhiệm về nội dung đề nghị.

Trong vòng tối đa 5 ngày kể từ khi nhận được đề nghị, Bộ Tài chính lấy ý kiến các cơ quan quản lý hàng dự trữ quốc gia và các cơ quan liên quan. Thời hạn trả lời của các cơ quan được lấy ý kiến là 3 ngày. Sau khi nhận đủ ý kiến, Bộ Tài chính có tối đa 5 ngày để tổng hợp và ban hành quyết định xuất hàng dự trữ quốc gia.

Các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ tổ chức thực hiện và phải báo cáo kết quả về Bộ Tài chính trong thời hạn tối đa 3 ngày kể từ khi hoàn thành nhiệm vụ. Đáng chú ý, sau khi xuất bán hoặc xuất cấp, cơ quan quản lý phải xây dựng kế hoạch nhập bổ sung nhằm bảo đảm quy mô nguồn lực dự trữ theo yêu cầu.

Như vậy, cơ chế mới không chỉ tập trung vào việc duy trì một lượng hàng dự trữ cố định mà hướng tới khả năng vận hành linh hoạt hơn theo diễn biến thực tế. Khi nguồn cung thiếu hụt hoặc giá cả biến động mạnh, hàng dự trữ có thể được sử dụng như một nguồn lực hỗ trợ thị trường theo đúng thẩm quyền và quy định.

 

Nghị định 345 cũng làm rõ việc tạm xuất và thu hồi hàng dự trữ quốc gia. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia quyết định tạm xuất hàng để thực hiện mục tiêu dự trữ quốc gia theo quy định của Luật Dự trữ quốc gia. Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành nhiệm vụ, nếu hàng tạm xuất vẫn đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và yêu cầu bảo quản, cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi và nhập lại kho dự trữ quốc gia.

Trường hợp hàng tạm xuất không còn đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng hoặc yêu cầu bảo quản, cơ quan quản lý quyết định xuất cấp hoặc xuất bán theo quy định. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi ban hành quyết định, cơ quan quản lý phải gửi thông tin cho Bộ Tài chính để theo dõi. Quy định này giúp phân định rõ cách xử lý đối với hàng hóa sau khi được đưa ra khỏi kho, hạn chế tình trạng kéo dài thời gian xử lý hoặc để hàng hóa không còn đủ điều kiện bảo quản tiếp tục nằm trong hệ thống dự trữ.

Nghị định cũng quy định cụ thể các trường hợp hàng dự trữ quốc gia được xuất tiêu hủy. Hàng hóa có thể được tiêu hủy nếu bị hư hỏng, không thể sử dụng do nguyên nhân khách quan; thuộc danh mục hàng hóa không được phép sử dụng trên thị trường theo quyết định của cấp có thẩm quyền; không còn khả năng sử dụng do thay đổi công nghệ; hoặc đã hết hạn sử dụng nhưng không thể xuất bán, xuất cấp trong quá trình luân phiên, đổi hoặc hoán đổi hàng.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia quyết định việc xuất tiêu hủy và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Hoạt động tiêu hủy phải tuân thủ quy định về bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật liên quan. Kinh phí tiêu hủy do ngân sách nhà nước bảo đảm. Trong vòng 5 ngày làm việc kể từ khi hoàn thành tiêu hủy, cơ quan quản lý phải báo cáo kết quả về Bộ Tài chính.

Với việc quy định rõ từng trường hợp, thẩm quyền và thời hạn xử lý, Nghị định 345/2026/NĐ-CP tạo cơ sở để hệ thống dự trữ quốc gia vận hành chủ động hơn. Đáng chú ý, việc cho phép nhập bổ sung hoặc xuất hàng khi giá cả, nguồn cung biến động bất thường có thể giúp tăng khả năng phản ứng chính sách trước những cú sốc của thị trường. Nghị định có hiệu lực từ ngày 4/9/2026. Riêng các nội dung về dự trữ chiến lược có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.

Đình Trọng