Công trình cổ 500 năm tuổi trở thành 'đê chắn lũ', ngăn dòng nước cao hơn mặt đường 40cm suốt 26 giờ
Hình ảnh chia sẻ cho thấy một bên cổng là dòng nước lũ đục ngầu, bên còn lại vẫn là đường phố với người dân, xe máy và ô tô.
Đầu tháng 9, một cổng chống lũ tại huyện Chiếu An, thành phố Chương Châu (tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc) được đóng để ngăn nước sông dâng cao tràn vào khu phố cổ. Những tấm ván gỗ xếp chồng lên nhau đã tạo thành lớp chắn, giữ nước ở phía ngoài trong 26 giờ.
Theo truyền thông địa phương, mưa lớn do bão khiến mực nước sông Đông Khê dâng cao hơn khu vực phố cổ khoảng 40cm. Ngày 3/9, lực lượng ứng phó đóng cổng chống lũ trên nền tường thành có lịch sử khoảng 500 năm. Đến ngày 4/9, khi nước rút, các tấm ván được tháo xuống.
Hình ảnh do CGTN Frontline chia sẻ cho thấy phía ngoài cổng là dòng nước đục dâng cao, trong khi phía bên trong vẫn là đường phố với người dân, xe máy và ô tô. Sự tương phản giữa 2 phía cho thấy rõ vai trò của công trình trong việc ngăn nước tràn vào khu dân cư.
26 giờ ngăn nước tràn vào khu phố cổ
Công trình có tên Đại Thủy Môn (tạm dịch theo Hán Việt là cổng ngăn nước lớn). Chiếc cổng không thiết kế trực diện với dòng nước mà dọc theo hướng dòng chảy. Khi có nguy cơ nước tràn vào khu phố cổ, lực lượng ứng phó đưa các tấm ván gỗ vào vị trí chắn. Những tấm ván nguyên khối cao khoảng 20cm được xếp chồng lên nhau từng lớp.
Theo ông Thẩm Tích Văn - phụ trách trạm quản lý sông Đông Khê và Tây Khê tại Chiếu An, kết cấu của Đại Thủy Môn gồm 2 lớp ván phía trước và phía sau. Các tấm gỗ được xếp từng tầng theo diễn biến mực nước, đồng thời chèn đất cát vào các khe hở. Đất cát tiếp xúc với nước sẽ tăng độ kết dính, góp phần bịt các khe giữa những tấm ván. Kết cấu gỗ kết hợp vật liệu chèn tạo thành lớp chắn giúp giảm lượng nước thấm vào khu phố cổ.
Do mỗi tấm ván có kích thước và trọng lượng lớn, quá trình lắp đặt cần nhiều người phối hợp vận chuyển, căn chỉnh và xếp từng lớp. Ván gỗ cùng vật liệu chống thấm được lưu trữ tại khu vực gần cổng để có thể nhanh chóng đưa vào sử dụng khi có yêu cầu phòng lũ.
Trong điều kiện bình thường, Đại Thủy Môn mở để người dân đi lại, mua bán và sinh hoạt. Khi nước sông dâng cao, các tấm ván được lắp vào vị trí, biến tuyến đường thành cửa chắn nước.
Mực nước cao nhất trong đợt này được ghi nhận khoảng 5,89m, trong khi cao độ tuyến đường trước cổng khoảng 5,2m. Năm 2006, Đại Thủy Môn từng được sử dụng để ứng phó lũ khi mực nước sông Đông Khê đạt 7,32m.
Đại Thủy Môn nằm trong hệ thống cửa chắn lũ dọc sông Đông Khê thuộc thành cổ Nam Chiếu. Theo QQ News, công trình có tiền thân từ thời Nguyên, được định hình vào thời Minh và trải qua nhiều lần sửa chữa.
Dọc bờ Đông Khê của khu thành cổ hiện có 9 cửa chắn lũ. Đại Thủy Môn là cửa có quy mô lớn nhất và giữ vai trò chính trong công tác phòng chống lũ. Các cửa còn lại được trang bị cửa thép, vận hành bằng thiết bị nâng hạ.
Trong quá trình phát triển đô thị, hệ thống phòng chống lũ tại khu vực tiếp tục được xây dựng và nâng cấp.
Vào thập niên 1960, Chiếu An tiến hành mở rộng, chỉnh trị sông Đông Khê và xây dựng tuyến đê đá dọc khu vực tường thành cổ. Sau năm 2010, địa phương tiếp tục nâng cao, gia cố tuyến đê trên nền di tích và đê đá cũ, đồng thời bổ sung kết cấu mô phỏng tường thành.
Sau các đợt nâng cấp, tiêu chuẩn phòng chống lũ của hệ thống được nâng lên mức ứng phó trận lũ có chu kỳ lặp lại 30 năm.
Kỹ thuật xây thành gắn với phòng chống lũ
Chuyên gia Chu Tiểu Nam thuộc lĩnh vực quản lý di sản văn hóa Trung Quốc cho biết, khi xây dựng tường thành tại các đô thị ven sông, người xưa đã tính đến nguy cơ nước dâng và phương án bảo vệ khu vực bên trong thành.
Tại Tứ Xuyên, nhiều thành cổ được xây dựng ở vị trí có địa hình cao. Các đô thị nằm gần sông như Lô Châu, Nghi Tân và Lạc Sơn cũng có cao độ tương đối lớn so với mặt sông. Dù vậy, Lạc Sơn và Lang Trung từng đối mặt với nguy cơ nước sông tràn vào nội thành. Từ thực tế đó, người xưa phát triển nhiều phương pháp gia cố tường thành kết hợp với yêu cầu phòng chống lũ.
Tại thành Nam Khê, các khối đá dạng thanh được xếp theo chiều dọc, với chiều dài tương đương độ dày của tường nhằm tăng độ chắc chắn. Ở cửa Lệ Chính tại Lạc Sơn, công trình sử dụng đá sa thạch đỏ, vữa vôi trộn hồ gạo nếp và các chi tiết gia cố bằng sắt.
Theo ông Chu Tiểu Nam, các thành phố cổ ven sông đã hình thành hệ thống kỹ thuật kết hợp giữa xây dựng thành lũy và công trình thủy lợi. Các giải pháp được triển khai tùy điều kiện từng địa phương, gồm dẫn nước, gia cố kết cấu và chống chịu trước dòng nước.
Đại Thủy Môn là một ví dụ của cách tiếp cận này. Theo Đông Nam Võng, công trình hiện là một phần của hệ thống phòng chống lũ kết hợp giữa nền di tích lịch sử và công trình thủy lợi hiện đại. Phương thức xếp ván gỗ chắn nước vẫn được duy trì do đặc điểm của tuyến giao thông qua cổng.