Cổ tự duy nhất của Việt Nam có khu tưởng niệm và phần mộ liệt sĩ tăng, ni, được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt
Từ năm 1947 đến năm 1981, ngôi chùa này đã tổ chức lễ cởi áo cà sa cho 35 tăng, ni lên đường nhập ngũ, trong đó 12 người đã anh dũng hy sinh.
Nằm cách TP. Hà Nội hơn 100km, chùa Cổ Lễ (Thần Quang Tự) thuộc xã Cổ Lễ, tỉnh Ninh Bình (thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định trước đây) là một trong những công trình kiến trúc Phật giáo tiêu biểu của Việt Nam. Với lịch sử hơn 800 năm, ngôi chùa không chỉ nổi bật bởi kiến trúc giao thoa Đông - Tây độc đáo mà còn là ngôi chùa duy nhất trong cả nước có khu tưởng niệm và phần mộ các tăng, ni hy sinh vì độc lập dân tộc, thể hiện truyền thống "đạo pháp đồng hành cùng dân tộc" của Phật giáo Việt Nam.
Theo các tư liệu lịch sử, chùa Cổ Lễ được xây dựng từ thời Lý, là nơi thờ Phật và Đức Thánh tổ Nguyễn Minh Không. Ban đầu, chùa được dựng bằng gỗ, song trải qua thời gian, công trình dần xuống cấp. Đến năm 1902, Hòa thượng Phạm Quang Tuyên về trụ trì và tiến hành trùng tu, tái thiết ngôi chùa theo một phong cách kiến trúc mới.
Trên nền kiến trúc Phật giáo truyền thống, chùa được thiết kế với nhiều chi tiết mang ảnh hưởng của kiến trúc Gothic phương Tây. Những mái vòm cao, cửa cuốn, bích họa cùng hệ thống hoa văn, phù điêu đậm bản sắc Việt được kết hợp hài hòa, tạo nên diện mạo riêng cho di tích. Toàn bộ quần thể được bố trí theo trục Đông - Tây, gồm cổng chùa, tam quan, chính điện, gác chuông, phủ Mẫu, đền thờ Đức Thánh Trần, tháp Cửu phẩm liên hoa cùng nhiều công trình phụ trợ và cổ vật có giá trị lịch sử, nghệ thuật.
Điểm nhấn nổi bật trong quần thể kiến trúc là tháp Cửu phẩm liên hoa cao 32m, gồm 9 tầng hoa sen liên kết, tượng trưng cho "cửu trùng" - 9 tầng trời. Theo tương truyền, công trình được xây dựng hoàn toàn bằng các vật liệu truyền thống như vôi, gạch, cát, mật và muối, không sử dụng xi măng hay sắt thép.
Chùa Cổ Lễ cũng lưu giữ Đại Hồng Chung - một trong những quả chuông lớn nhất Việt Nam. Quả chuông được đúc vào khoảng năm 1936, cao 4,2m, đường kính 2,2m, thành dày 8cm. Theo tư liệu lưu trữ, trong quá trình đúc chuông, nhiều phật tử đã công đức nhẫn, vòng và vàng để hòa vào kim loại đúc chuông.
Tuy nhiên, khi quả chuông vừa hoàn thành thì kháng chiến bùng nổ. Để tránh bị phá hoại, người dân đã đưa chuông ngâm dưới hồ nước. Đến năm 1954, chuông được trục vớt và đặt trên bệ đá trong khuôn viên chùa. Từ đó đến nay, Đại Hồng Chung vẫn chưa từng được đánh.
Bên cạnh những giá trị về lịch sử và kiến trúc, chùa Cổ Lễ còn ghi dấu ấn đặc biệt trong lịch sử đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhiều tăng, ni của chùa đã rời cửa thiền, khoác áo lính lên đường làm nhiệm vụ.
Theo thống kê của nhà chùa và cơ quan quản lý di tích, từ năm 1947 đến năm 1981, chùa Cổ Lễ đã tổ chức lễ cởi áo cà sa cho 35 tăng, ni lên đường nhập ngũ. Trong số đó, 12 người đã anh dũng hy sinh trên các chiến trường. Sau chiến tranh, phần mộ của các liệt sĩ tăng, ni được quy tập về an táng trong khuôn viên chùa, hình thành khu tưởng niệm liệt sĩ tăng, ni - công trình được đánh giá là duy nhất tại Việt Nam.
Hằng năm, cùng với lễ hội chùa Cổ Lễ diễn ra từ ngày 13 đến 16 tháng 9 Âm lịch nhằm tưởng niệm Đức Thánh tổ Nguyễn Minh Không, nhà chùa còn tổ chức lễ dâng hương tưởng niệm các tăng, ni đã hy sinh trong các cuộc kháng chiến. Lễ hội cũng có nhiều hoạt động văn hóa truyền thống như rước Phật, rước Đức Thánh tổ, diễn xướng tâm kinh, trò chơi dân gian và hội thi bơi chải trên dòng sông bao quanh chùa. Năm 2023, "Lễ hội chùa Cổ Lễ" được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Với những giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và văn hóa, chùa Cổ Lễ được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật Quốc gia năm 1988. Đến năm 2025, di tích được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt.
Ngày nay, giữa không gian thanh bình của vùng đồng bằng Bắc Bộ, chùa Cổ Lễ vẫn giữ được vẻ cổ kính với tiếng chuông ngân bên mặt hồ, bóng tháp Cửu phẩm soi xuống làn nước và những hàng cây xanh bao quanh khuôn viên. Không chỉ là điểm đến tâm linh, di tích còn lưu giữ những dấu ấn lịch sử gắn với sự hy sinh của các tăng, ni vì độc lập dân tộc, góp phần phản ánh truyền thống gắn bó giữa Phật giáo và dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ.